Kinh Hiền Ngu (Phẩm 11-18)

Phẩm thứ mười một: TỶ KHƯU BẢO THIÊN

Chính tôi được nghe Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái Tử Kỳ Đà. Ở thành này có ông Trưởng giả, bà vợ sinh được cậu con trai mặt mũi đầy đặn xinh đẹp, giữa lúc sinh, trên trời tự nhiên châu bảo rơi xuống như mưa: Vàng, bạc, nhọc lưu ly, ngọc xa cừ, ngọc mã não, ngọc san hô, ngọc phách; nơi vườn, ngoài sân, đầy dẫy.

Dân làng hàng xóm xúm đến xem và lượm châu bảo giùm. Họ lại ca tụng ông bà có nhiều phúc đức, và người con quý, nên trời ban thưởng những châu bảo này ư.

Trưởng gia vui mừng vừa được quý tử, lại được châu bảo, tự nghĩ: “- Việc này từ cổ đến kim chưa từng thấy.” Hồ nghi không biết tốt hay xấu, nên sai người đi tìm thầy tướng đến xem hung cát thế nào.

Thầy tướng tới nhà, ông nói:

– Thưa ngài nhà tôi mới sinh được một mụn con trai, lại thấy có châu bảo rơi xuống nhiều, không biết hay dở thế nào, xin Ngài xem giùm và coi tướng cháu có thể nuôi được nên người không?

Thầy tướng nói: – Dạ! Ngài ẵm cháu ra đây!

Bà Trưởng giả nghe thầy nói vội bế con ra. Thầy ngắm nghía hồi lâu rồi nói:

– Thưa Trưởng giả cháu có nhiều tướng quý: Đầu tròn, mũi thẳng, tai dầy và trán vuông, mặt dầy, bàn chân bàn tay đầy, sau này có thể làm ích cho gia đình, xã hội. Nếu xuất gia sẽ được chứng quả giải thoát, ông bà cứ yên trí nuôi cháu cho cẩn thận, không còn nghi ngờ gì nữa.

Nghe tướng sư nói ông rất lấy làm hoan hỷ và nói :

– Xin phiền thầy đặt tên cho cháu.

Tướng sư nói: – Theo điềm có châu bảo rơi xuống, đặt tên cho cháu là Lặc Na Đề Bà (Tàu dịch là Bảo Thiên).

Nói rồi tướng sư đứng lên cáo lui ra về, ông Trưởng giả thận trọng cám ơn và tạ lễ.

Quả như lời tướng sư nói, Bảo Thiên khi lớn tuổi học hành, thông minh tài năng lỗi lạc, nhưng rất ham đạo đức và có trí suy tầm đạo giáo. Một hôm cậu sang chơi nhà thân quen tỉnh khác, họ đưa cậu đến yết kiến Phật, tới nơi mọi người đều nhiễu Phật ba vòng, cậu cũng theo như họ lễ và nhiễu, rồi lui ngồi một bên, nhìn thấy Phật oai đức phi thường khắp trời đất không ai sánh kịp, sinh lòng mến mộ, phát ý xả tục nhập đạo nối chí như Phật.

Tới đây đức Phật thăng tòa thuyết pháp cho đại chúng nghe nói về mười hai nhân duyên, chúng sinh bị luân chuyển trong sáu đạo, xong cuộc thuyết pháp mọi người tạ lễ lui ra.

Bảo Thiên được nghe lời vàng ngọc của Phật giáo hoá, lấy làm sung sướng định tâm lần này quyết xuất gia tu đạo.

Khi về tớí nhà cậu quỳ xuống thưa cha mẹ rằng:

– Kính lạy song thân! Được làm người là khó, được gặp Phật tại thế lại khó hơn, hôm qua con được yết kiến Thế Tôn, lại được nghe chánh pháp con nhận thấy ngoài đạo Phật ra không còn đạo nào có thể giải thoát cho con người, vậy kính xin song thân cho con xuất gia học đạo.

Ông bà thấy cậu hướng việc tu hành, vui vẻ nói:

– Cha mẹ sinh người chứ không sinh được tánh, ý con muốn xuất gia thì cha mẹ cũng vui lòng.

Được sự đồng ý của cha mẹ rồi lễ tạ ra đi, tới nơi cúi đầu lễ Phật thưa rẳng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, chúng con từ vô thủy kiếp, bị nổi chìm trong biển sinh tử, không người cứu vớt, Ngài như một chiếc thuyền từ cứu người giải thoát, hôm nay chúng con tới đây một lòng thành kính cầu xuất gia học đạo, để lên nơi giác ngạn, cúi xin Ngài từ bi tiếp hóa.

Phật nói: – Thiện Lai Tỳ Khưu.

Nói dứt lời tóc trên đầu Hoa Thiên rụng hết, áo trên mình biến thành áo Cà Sa, từ đó theo Phật tu hành, vốn có trí óc thông minh sẵn, nên không bao lau đã chứng được quả A La Hán, cắt đứt đường sinh tử, không phải thụ sinh trong ba cõi.

Nhân buổi thư nhàn vấn đạo, tôi (A Nan) muốn biết rõ câu chuyện này nên bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Không hay Tỳ Khưu Bảo Thiên đời trước làm phước gì lúc sơ sinh lại có châu bảo trên trời bay xuống. Và những món ăn dùng tự nhiên biến hiện tuỳ theo ý muốn, xin Ngài nói cho chúng con được rõ.

Phật dạy rằng: – A Nan! Đời quá khứ cách đây đã lâu lắm có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi tế độ cho quần sinh được giải thoát rất nhiều không tính xuể. Một hôm các vị Tăng đi vào các thôn xóm khất thực, người dân chen nhau mang các món ăn ra cúng dàng. Lúc ấy có một người nghèo, phát sinh lòng hoan hỷ! Muốn cầu phước cúng dàng, nhưng không có tiền của, cùng bất đắc dĩ, lấy một nắm đá tròn như hạt châu với một lòng thành kính thiết tha, tung nắm đá ấy lên các vi Tăng và khấn nguyện rằng: – Nguyện cho con đời đời phú quý trường thọ và được đạo giải thoát như các ngài.

A Nan ông nên biết! Người nghèo cúng đá thuở đó, chính nay là Tỷ Khưu Bảo Thiên, cũng do đời quá khứ có lòng kính tin ngôi Tam bảo, đem đá cúng chư Tăng cho nên từ đó tới nay trải qua chín mươi mốt kiếp, được hưởng vô lượng phước báu, sinh về xứ nào, cũng an hưởng tự nhiên, cũng bởi duyên ấy nay được gặp Ta và đắc đạo quả.

Bấy giờ tất cả mọi người trong đại hội, nghe Phật nói xong ai nấy đều phát tâm cung kính sự cúng dàng, rồi có người đắc sơ quả, cho đến tứ quả, cũng có người được ngôi bất thoái, vui mừng tạ lễ mà lui.

 

 

 

Phẩm thứ mười hai: SÀN ĐỀ BÀ LA

Chính tôi được nghe Một thời đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ, tại rừng Trúc khi Ngài mới thành Phật bắt đầu độ nhóm ông Kiều Trần Như cả thảy năm người, sau độ cho anh em ông Uất Tỳ La Ca Diếp, ngàn người, độ người đã nhiều được thoát khổ cũng lắm.

Bấy giờ nhân dân nước La Duyệt Kỳ vui mừng được bậc đại Thánh Nhân xuất thế, ai ai cũng ca tụng khen ngợi đức Thế Tôn: Một đấng cứu thế, biết bao chúng sinh được hàm ân thoát khổ, hơn nữa Ngài còn hóa phục được những tà đạo trở lại theo Ngài, thực là một việc lại còn khó hơn. Họ lại khen nhóm ông Kiều Trần Như và anh em ông Uất Tỳ La Ca Diếp với các vị đại đức Tỷ Khưu khác, đối với đức Thế Tôn chẳng hay đời trước có duyên gì? Trống pháp mới đánh đã được nghe trước, nước cam lồ được uống trước.

Các Tỳ Khưu thấy họ ca tụng như vậy liền đem chuyện ấy lên thưa với Phật.

Phật nói: – Đó không chi lạ đâu! Ta với các ông ấy đã có lời thệ nguyện từ đời quá khứ: Nếu Ta được thành Phật, Ta sẽ độ cho các ông ấy trước.

Các Thầy thưa rằng: – Kính lạy Ngài! Thuở xưa Ngài thệ nguyện thế nào, cúi xin nói cho chúng con được rõ.

Phật dạy: – Muốn biết sự tích Ta với các ông ấy đời quá khứ, hãy để ý nghe cho kỹ Ta sẽ nói cho hay: Đời quá khứ cách đây đã lâu lắm có đến vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp không thể dùng tâm suy nghĩ và lời nói mà tính được. Cũng Châu Diêm Phù này, có một nước lớn gọi là Ba La Nại, ông vua nước ấy tên là Ca Lợi cũng thời đó có một vị đại tiên tên là Sàn Đề Bà La và cả thảy năm trăm đệ tử ở trên một quả núi tu theo phép nhẫn nhục.

Một hôm nhà vua nước ấy cùng với phu nhân, thể nữ, quần thần vào núi để du ngoạn: Săn bắn các thú vật, bày các cuộc vui, uống rượu, ăn thịt, các thể nữ múa hát, làm cho nhà vua vui tai, thích mắt, thỏa thích với dục lạc, rồi tiệc rượu, nhà vua nằm nghỉ nhọc dưới gốc cây, thừa cơ ấy các cô rủ nhau đi xem hoa trong rừng, tới một hang núi, thấy ông Sàn Đề Bà La đương ngồi yên tĩnh có vẻ trầm tư suy xét, các cô này thấy ông đạo mạo với nét mặt siêu phàm, ngoài cuộc trần tục, nên các cô sinh lòng kính trọng! Hái các thứ hoa tung lên cúng dàng rồi ngồi xúm lại xung quanh để nghe thuyết pháp.

Khi hết hơi men nhà vua thức dậy, nhìn xung quanh không thấy một người con gái nào hầu cạnh, ông nổi giận quá đứng phắt dậy, cùng với bốn ông quan đại thần đi tìm, một lát tới chỗ ông Tiên, thấy bọn các cô đang ngồi vây quanh trước sau, nhà vua cất tiếng la lớn, các cô này sợ hãi chạy dạt ra, nhà vua tới trước chỗ ông Tiên hỏi rằng:

– Nhà ngươi đã đắc định Tư Không chưa?

– Thưa chưa được.

– Nhà ngươi đã được Tứ Vô lượng Tâm chưa?

– Thưa chưa được.

Nhà vua lớn tiếng nạt rằng:

– Từng ấy công đức đều nói chưa được, như vậy, nhà ngươi có hơn gì kẻ phàm phu, thế mà dám ngồi chung với những đứa con gái này ở nơi vắng vẻ tin sao được?

Ông Tiên lặng yên không đáp lời nào hết, nhà vua lại hỏi:

– Ở đây người là người thế nào? Tu đạo gì?

– Thưa! Tôi tu theo hạnh nhẫn nhục!

Nhà vua có vẻ tức giận rút kiếm ở sau lưng ra nói:

– Nhà ngươi tu nhẫn nhục ư! Nhẫn nhục để ta thử xem ngươi có nhẫn nhục đựợc không?

Nói xong chém phắt hai cánh tay ông Tiên rơi xuống đất, rồi hỏi tiếp:

– Đã nhẩn nhục được chưa?

Tiên đáp: – Nhẫn nhục được!

Ông laị chém phát hai nhát vào hai vế đùi nhả ra, rồi hỏi tiếp:

– Đã nhẫn nhục được chưa?

– Nhẫn nhục được!

Nhà vua lại xẻo hai tai và mũi trông rất ghê sợ. Tất cả quan quân thể nữ, nhìn thấy nhà vua quá ư ác nghiệp với ông Tiên ai cũng sám đen mặt lại, nhưng không dám can ngăn, vì sợ cơn ghen của ông đương bộc phát, song họ nhìn thấy ông Tiên nét mặt bình tĩnh không chút biến đổi.

Nhà vua đứng ngước mắt nhìn xem ông Tiên này có phản kháng với mình gì không? Nhưng không.

Ngay giờ phút ấy quả đất tự nhiên rung động sáu lần, năm trăm vị tiên đệ tử theo Ngài tu học bay vót lên hư không ngó xuống hỏi rằng:

– Lạy thầy! Thầy bị đau khổ như vậy có khỏi mất tâm nhẫn không?

Đáp: – Tâm ta vẫn bình tĩnh và cũng là tăng thượng duyên cho tâm nhẫn của ta lại càng thêm vững chắc!

Tới đây ông vua đã từ từ hạ cơn ghen, nhìn thấy ông Tiên vẫn thản nhiên, sự nhẫn đã thế, lại còn sự đau cũng không thấy hoài tâm, dịu giọng hỏi:

– Nhà ngươi tự nói tu phép nhẫn nhục lấy gì làm bằng cớ, cho có sự thậ?

Đáp: – Ta không nói nhà vua cũng thấy được sự thật của ta, một là ta không khuất phục dưới thế lực áp bức bất minh thiếu nhận xét, hai là ta không quan tâm đến lưỡi kiếm của nhà vua chém ta, và ta cũng không có ác niệm gì đối với sự hung tàn của nhà vua, muốn biết rõ sự thật ta sẽ nguyện rằng: Nếu quả ta có thực hành đạo nhẫn nhục, huyết sẽ biến ra sữa, thân sẽ bình phục như cũ.

Đại Tiên nói xong, huyết tự nhiên biến ra sữa, thân thể lại hoàn toàn như xưa.

Nhà vua thấy sự nhẫn nhục của đại tiên hiển nhiên quá! Cảm động quá rùng mình, sởn gáy, sợ toát mồ hôi! Là mình đã quá ư 讦#243;ng giận với tâm mê chấp tham dục nếu ta không xin lỗi sẽ bị chiêu họa.

Nhà vua vội vất kiếm xuống đất, quỳ trước mặt đại tiên thưa rằng:

– Thưa đại Tiên, chúng tôi hiểu lầm, vì quá si mê nên hôm nay đối với Ngài một cách quá đáng, vô nhân đạo, cúi xin Ngài tha thứ nhận lòng thành sám hối của tôi.

Đại Tiên đáp: Hôm nay nhà vua cũng vì nữ sắc, quá giận dùng kiếm chém ta tâm nhẫn của ta như đại địa, ta thề rằng sau khi ta được thành Phật ta sẽ dùng tuệ đao, chém ba cái độc, tham, sân, si cho nhà vua trước.

Nhà vua thấy Đại Tiên đã hoan hỷ tha thứ, và nhận lời tạ lỗi của mình, vái chào ra về.

Lúc ấy trong núi có các bộ Long, Vương, bộ quỷ thần thấy vua Ca Lợi vô cớ làm huỷ nhục vị Đại Tiên, tức giận nổi cơn lôi đình làm cho mây khói u ám rợp trời, sấm sét vang dội, ý muốn hại vua và đánh chết họ hàng nhà vua cho bằng hết.

Đại Tiên thấy thế ngửa mặt lên trời nói rằng:

– Các ông nên buông lòng bao toả khắp muôn loài, nếu có thiện chí với tôi, bênh tôi, thì xin đừng làm hại nhà vua!

Từ đó vua Ca Lợi, tự hạ mình xuống như người đệ tử tôn kính Đại Tiên như thầy, luôn luôn đến thăm viếng cúng dàng, cũng có lúc mời về vương cung giảng dạy.

Thời ấy cũng có một bọn Phạm Chí chừng ngàn người tu theo tà đạo, thấy vua Ca Lợi kính trọng biệt đãi vị Đại Tiên, sinh lòng ghen ghét thuê người lấy phân trát lên toà ngồi của Đại Tiên, lúc vắng mặt, đã nhiều lần nhưng không biết rõ kẻ nào có tâm nham hiểm xấu xa, một thái độ đê hèn; sau cùng do sự điều tra chắc chắn của nhà vua, bắt được những kẻ gian ác đem ra tra hỏi, chúng tự xưng là bọn Phạm Chí mướn. Lập tức vua Ca Lợi hạ lệnh bắt hết nhóm Phạm Chí lại cung môn.

Đại Tiên vốn lòng từ bi và đương thực hành đạo nhẫn nhục, nên xin vua tha tội cho họ. Trước nhà vua và đại chúng, Đại Tiên phát thệ rằng :

– Tôi vì chúng sinh tu hạnh nhẫn nhục tích góp công phu không lười mỏi, để cầu thành Phật, sau khi được thành tựu, tôi sẽ lấy nước pháp trí tuệ tẩy trừ cho hết trần cấu uế dục lũ các người này được trong sạch trước.

Tớ⩠đây Phật nhắc lại cho tôi hay rằng:

– A Nan! Ông Sàn Đề Bà La thuở đó chính là tiền thân của ta, vua Ca Lợi nay là ông Kiều Trần Như, bốn quan đại thần thuở đó nay là bốn vị Tỷ Khưu cùng nhóm với ông năm người, còn ngoài đạo Phàm Chí lúc đó nay là ông Uất Tỳ La Ca Diếp và ngàn vị Tỷ khưu này.

Thuở đó ta thề nguyện độ cho các ông ấy trước, nay ta thành Phật nên các ông ấy được độ trước. Như vậy biết lời thề nguyện không sai.

Khi đại chúng nghe Phật nói xong, ai nấy đều vui mừng, tán thán hạnh nhẫn nhục của Ngài thực là hy hữu, rồi cùng nhau lễ tạ lui ra.

 

Phẩm thứ mười ba: VUA TỪ LỰC CHO HUYẾT

Chính tôi được nghe Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn Kỳ Hoàn buổi sáng ấy, bầu trời êm ả, thả làn gió nhẹ qua những hàng cây vi vút; buổi trà nước dâng Phật vừa xong, tôi (A Nan) ra khoảng rừng vắng tọa thiền dưới gốc cây tự nghĩ như vầy: Đức Phật ra đời biết bao người được nhờ ơn tế độ, thế giới thanh bình, nhân dân an lạc, cây cỏ xinh tươi, muôn loài hớn hở, là do nhờ đức hóa của Ngài, lại nghĩ rằng: Nhóm ông Kiều Trần Như trồng nhân lành gì? Nương nhân duyên gì? Cửa từ bi thuyết pháp cứu sinh, bọn ông được vào trước? Trận mưa cam lồ bắt đầu bọn ông được tắm trước? Nghĩ xong tôi đứng dậy về Tịnh Xá đem ý nghĩ trên bạch Phật, Phật bảo tôi rằng:

– A Nan, nhóm ông Kiều Trần Như đã một lần bị chết đói, vì lòng từ bi nên ta trích huyết trong người ra cho các ông ấy uống, bởi thế nay được nghe pháp trước, giải thoát trước.

– Kính lạy đức Thế Tôn! Vì duyên gì mà các ông ấy bị đói? Tại sao không ăn các món khác lại phải uống huyết mới sống? Cúi xin Ngài nói lại cho con và đại chúng đây được rõ!

Phật dạy rằng: – A Nan! Ông muốn biết câu chuyện ấy hãy chú ý nghe: Thuở đó tới nay tính số kiếp A Tăng kỳ đã quá lâu, cũng Châu Diêm Phù Đề này, có một ông vua nước lớn, tên là Di Già La Bát La (Tàu dịch: Từ Lực) cai trị tám mươi bốn ngàn nước nhỏ, hai vạn bà phu nhân, một vạn quan đại thần, nhà vua từ bi khoan hậu, đủ bốn tâm bình đẳng, thương dân giúp vật, thường đem mười điều lành giáo hóa, trong nước được thanh bình an lạc, muôn phương kính nể.

Thời ấy có các loài Dịch Quỷ, hay đi bắt người để uống máu ăn tiết, chứ không sống bằng cơm gạo, ngô, khoai.

Những người dân thuở đó theo lệnh của nhà vua bắt buộc ai cũng phải tu mười điều lành, giữ thân miệng, ý thanh tịnh. Vì thế bọn ác quỷ không dám đến gần, không thể bắt ai ăn được, nên chúng bị đói, chỉ còn da bọc xương, khí lực đã gần tuyệt. Bấy giờ có năm con quỷ đến tâu vua rằng:

– Tâu bệ hạ: Chúng tôi sống bằng sự ăn uống khí huyết của loài người. Nhà vua dạy dân tu theo mười điều lành; vì họ tu theo mười điều lành, nên có các thiên thần ủng hộ, chúng tôi không dám bắt ăn thịt, bị đói đã lâu, chỉ còn chờ chết. Vậy nhà vua làm hạnh từ bi há không thương lũ chúng tôi sao?

Nhà vua nghe quỷ nói, trong tâm rất cảm động, hỏi rằng:

– Ngoài máu thịt người các ngươi dùng gì?

– Tâu Đại Vương máu thịt người là món chính, ngoài ra không dùng món gì có thể bảo tồn được thể xác.

Vì quá thương họ đói, nên nhà vua lấy dao khoét mình ra năm lỗ rồi nói:

– Máu của ta đây các ngươi lấy bát lại hứng mà uống.

Bọn quỷ vui sướng quá! Đương đói, tranh nhau cầm bát lại vừa hứng vừa uống, uống xong lạy tạ xin về.

Nhà vua nói: – Hãy khoan! Ta bảo đã: Các người bị nghiệp báo làm thân quỷ là do đời trước ham uống máu ăn thịt chúng sinh, lại thêm lòng tham sẻn, nên rán tu theo mười điều lành, tương lai ta thành Phật ra sẽ lấy Pháp thân và huyết giới, định, huệ, để trừ tâm tham dục ba độc đói khát cho lũ ngươi, và sẽ đưa lũ ngươi tới chỗ an vui vĩnh viễn.

Tới đây đức Phật nhắc lại rằng:

– A Nan! Nên biết: Vua Từ Lực thuở đó chính là tiền thân của ta đây, năm quỷ dạ xoa, nay là nhóm ông Kiều Trần Như năm người. Thuở đó ta hứa độ cho bọn ông ấy trước, nên nay các ông ấy được nghe thuyết pháp trước, và được giải thoát trước.

Bây giờ, tôi và đại chúng được nghe câu chuyện đời quá khứ của Ngài và năm ông, ai ai cũng sợ toát mồ hôi, với lòng đại bi của Ngài, với chí sắt đá của Ngài ai mà bì kịp, rồi cùng nhau lễ tạ lui ra.

 

 

 

 

Phẩm thứ mười bốn: HÀNG PHỤC LỤC SƯ

Chính tôi được nghe Một thời đức Phật ở thành Vương Xá, tại vườn Trúc cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ Khưu ở đó.

Vua Bình Sa là người mến mộ Phật giáo, ông theo Phật nghe thuyết pháp đã lâu, và thực hành tu tiến, nên bấy giờ ông đã chứng được sơ quả, bởi vậy, lòng tin của ông lại càng kiên cố. Ông thường dâng thuốc thang, áo cà sa, giường đệm, món ăn quí lên cúng Phật và chư Tăng; ông rất tôn trọng, những người hay làm điều lành, và khi tới đâu, ông cũng khuyên người tu theo Phật giáo.

Trong nước ông có bọn Phú La Na Lục Sư, làm giáo chủ ngoại đạo, cũng thời đó, nhưng ra đời trước Phật ít năm, họ đem tà thuyết để dối bịp dân, những kẻ cuồng si không biết nhận xét chánh tà theo họ rất đông. Song em nhà vua cũng theo học bọn chúng, làm một con tin thuần cẩn, trí óc ngâm chìm dưới nguồn sau của bọn họ. Đem tiền của cung cấp đã lâu ngày, tài sản bị khuynh vong, gia đình bại hoại, cũng như kẻ bị bùa mê, bánh mến, không khác.

Đức Phật ra đời như vầng thái dương, xuất hiện luồng quang minh, soi khắp không gian muôn loài ấm áp, cây cỏ xinh tươi; ánh tuệ sáng đã tung tỏa khắp muôn phương, biết bao người đắc quả thành công trên đường giải thoát. Kẻ không biết theo một đạo giáo chân thật, khác gì loài rùa nằm dưới đầm sâu, cóng rét chịu quanh năm, mà không biết có ánh mặt trời trên đại địa, cũng như em vua Bình Sa, chịu buộc mình nơi tà giáo ngoại đạo, không biết nhận xét chánh tà.

Vua Bình Sa thương em mê muội, với tính cố chấp, hết sức thuyết đạo lý của Phật giáo cho nghe, và giục em mời Phật; phải tôn kính Phật, phải bỏ tà đạo, người em vẫn không chịu nhận lời và thưa rằng:

– Thưa anh! Muôn triệu người trên vũ trụ bao la, mỗi người một ý nghĩ khác nhau, không ai giống ai; mỗi người có sự nhận xét riêng, mỗi người có một sở thích riêng, anh theo giáo lý đạo Phật, anh khen Phật hay, tôi theo phái Lục Sư dĩ nhiên tôi hợp với lý trí của tôi là phải là đúng, là cao, tôi mới theo, nhưng anh đã nói tôi sẽ mời thầy tôi và Phật đàm luận về đạo lý hơn kém sẽ bày tỏ.

Nhà vua cười nói: – Hay lắm! Nay mai chú mời luôn đi, nhưng chú phải cam đoan với tôi. Nếu Phật hơn thì chú phải bỏ thầy chú theo Phật cùng tôi, nếu Phật kém tôi sẽ bỏ Phật để theo cùng chú!

– Vâng! Dĩ nhiên.

Ngày mai vua Bình Sa lên bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Muốn cho toàn quốc dân thoát khỏi vòng ác đạo, cùng được hưởng sự an vui từ đời này cho đến kiếp khác, con nhận thấy ngoài sự giáo hóa của Ngài ra thì không có đạo giáo nào hơn được, dân con có bọn Lục Sư, cũng đường một tôn giáo, đem những tà thuyết mị dân, đưa người vào hố sâu hang hiểm làm mồi cho hùm, beo, lang sói, chết đọa tam ác đạo. Con có người em cũng theo bọn chúng, hết sức răn bảo mà không chuyển lòng, con định bảy ngày nữa, mời Thế Tôn ra thí tràng, sau đó cho tìm bọn Lục Sư tới, để Ngài hóa phục dẹp bỏ đạo tà, hiển dương chánh đạo, một yếu điểm nhất là muốn cho quần chúng biết sức thần biến và đạo lý của Ngài để họ tự bỏ rơi bọn Lục Sư, cúi xin từ bi hoan hỷ cho chúng con được trượng thừa công đức!

Đừc Phật mỉm cười nói:

– Việc ấy cũng nên, làm Nhân Chúa có trách nhiệm mở mang trí óc khôn sáng cho dân, làm gấp ta vui lòng!

Nhà vua hoan hỷ lễ tạ lui ra, khi về hạ lệnh cho toàn quốc biết rằng:

– Quốc dân nên biết! Trong bảy ngày nữa, đức Thế Tôn và Lụ Sư dẽ đàm luận về đạo giáo, ai muốn biết, thì đến nơi thí tràng.

Em vua Bình Sa sửa soạn bàn, ghế, tòa ngồi rất trang nghiêm, tới ngày thứ bảy Lục Sư tới trước tiên, em vua trịnh trọng mời lên ngồi tòa cao đẹp, các nhà văn hào dân chúng đến đông như kiến cỏ, nhưng không thấy Phật đến, người em vua hỏi:

– Anh giục tôi mời ông Cù Đàm (Phật) các thầy tôi và dân chúng tới đông sao không thấy Ông ấy tới?

– Chú đã đi mời Ngài chưa.

– Chưa!

– Chú sai người đi mời Ngài hoặc chú đi, hôm trước tôi mời Ngài đã hứa.

Đương nói thì Phật đến, vua Bình Sa ra đón Phật, khi vào tới nơi, những tòa cao đẹp bọn Lục Sư đã ngồi hết cả, thấy thế nhà vua nóng lòng, nhưng không biết nói sao, chỉ riêng trách em mình. Đức Phật và chư Tăng phải ngồi tất cả những hàng ghế dưới.

Khi Phật ngồi yên tĩnh chừng được ba phút, bỗng nhiên thấy Ngài và chư Tăng ngồi trên ghế cao, bọn Lục Sư ngồi dưới chót, Lục Sư hổ thẹn đứng dậy, em nhà vua lại vác ghế lên cao mời Lục Sư ngồi, ngồi xong chừng một phút lại thấy ghế dưới chót, Phật ngồi trên cao, cứ như thế đến ba bốn lần, nhưng vẫn bị ngồi hàng ghế cuối, tới đây họ biết không có năng lực gì địch thủ, nên chịu ngồi ngượng ở đó.

Khi dâng nước, họ cứ theo thứ tự, tòa trên dâng trước, tòa dưới dâng sau. Đầu tiên dâng lên Phật.

Phật nói:

– Dâng Thầy của các ngươi trước, dâng ta sau cũng được!

Theo lời Phật phán bảo, họ đưa nước dâng Lục Sư, khi giơ bình rót, tắc không chảy, sau dâng Phật, rót chảy, Phật rửa tay xúc miệng xong, làm phép chú nguyện.

Xong việc trà nước bắt đầu dâng cơm, họ dâng Phật trước, Phật nói:

– Hôm nay các ngươi không phải vì ta mà thết bữa cơm nay, ta chỉ là khách, Thầy các ngươi là mục đích hơn, ngươi hãy dâng Thầy ngươi trước để Thầy ngươi chú nguyện cho.

Theo lời Phật dạy, bắt buộc họ mời Lục Sư chú nguyện, lúc chưa mời không sao, sau khi mời họ nhìn thấy Lục Sư hai hàm răng cắn chặt, không thấy nói năng cầu nguyện gì, chỉ biết giơ tay làm hiệu, xua những người ấy đến chỗ Phật, Phật làm phép chú nguyện xong.

Bắt đầu dâng món ăn, Phật nói:

– Hãy dâng Thầy các ngươi trước!

Họ phải theo lời Phật dạy, khi dâng lên Lục Sư, các món ăn bay bổng lên hư không lơ lửng trên đó và không rơi, làm cách nào cũng không thể lấy được, chờ khi dâng món ăn lên Phật và Tăng Chúng xong, thì các món ăn ấy rơi xuống trước mặt Lục Sư.

Khi dùng cơm xong, Phật gọi em vua bảo rằng:

– Khanh mời thầy khanh thuyết pháp trước đi.

Người em mời thuyết pháp, Lục Sư im thít không nói năng gì, té ra hi hàm răng cắn chặt lúc nào không biết, đồng thời bọn chúng giơ tay làm hiệu; ý nói đến mời Phật thuyết pháp còn ta bị câm họng ráo trọi.

Bọn đồ đệ của Lục Sư biết thầy mình thất thế và kém hẳn đã có ý chán nản phát ra tự đáy lòng, bấy giờ em vua và dân chúng lại lễ Phật và mời Ngài thuyết pháp.

Trước khi Phật thuyết pháp quả đất động chuyển sáu lần, hào quang năm sắc chiếu khắp đại thiên thế giới. Đức Phật như một đấng cha hiền thương đàn con dại, như một bực đại Giáo Sư đối với kẻ sơ tâm mới học, với đại chúng Ngài ra những lời hòa nhã dịu dàng, diễn thuyết các pháp, tính, tướng, phân biệt nghĩa lý sâu huyền, thế gian, và xuất thế gian.

Đại chúng nghe xong có rất nhiều người được giác ngộ, em vua Bình Sa chứng được Pháp Nhãn Tịnh, ngoài ra còn có người sơ quả cho đến tam quả, còn những vị xuất gia được lậu tận, có vị phát tâm vô thượng chứng quả bất thoái. Toàn thể đại chúng dự hội hôm ấy ai ai cũng phân biệt được chánh tà, họ phát tâm tin kính ngôi Tam Bảo, trở về quy y Phật, thờ Phật làm Thầy và bỏ rơi bọn Lục Sư, không cúng dàng thừa sự chúng nữa.

Tới đây mọi người đều đứng lên, ca tụng những công đức Ngài đã ban cho và phát nguyên xin theo làm đệ tử, đảnh lễ lui ra.

Lục Sư vừa bị nhục, vừa mất thể diện căm hờn tụ tập lại một nơi bàn kế để trả thù đức Phật, họ ra nơi rừng vắng học tập các phép lạ, và nghiên cứu các kỹ thuật.

Lúc ấy Thiên ma Ba Tuần thấy đồ chúng của mình thua Phật, dân chúng chán ghét, tất nhiên đạo của họ không truyền bá được, y liền bay xuống hóa làm hình Lục Sư tới để biểu diễn các phép lạ, và truyền phép cho Lục Sư, xong lại bay về Thiên Đàng.

Lục Sư sau khi được phép của Ba Tuần truyền thụ vui mừng quá! Tự đắc chí cho là cao diệu, là tối thắng, chúng tập hợp bàn nhau rằng: – Hôm trước bọn ta bị nhục, mọi người phải ly tán, giờ đây xem sự thần biến của Thầy chúng ta truyền thụ, có dư để hàng phục ông Cô Đàm Sa Môn, bây giờ yêu cầu vua lập một cuộc thi thần thông, để xem hơn thua thế nào, bàn nhau xong họ lên tâu rằng:

– Tâu Bệ Hạ, chúng tôi sẽ có đủ pháp lực tài năng thần biến, xin Bệ Hạ lập một cuộc đấu phép với Phật, để cho quốc dân biết tài năng của chúng tôi.

Nhavua cười nói: – Lũ bây thực là ngu si quá, Phật có đạo đức cao siêu phép thần túc vô ngại, các ngươi muốn thi với Phật, chẳng khác lửa đom đóm muốn tranh ánh mặt trời, nước vết chân trâu đem ví với biển cả, hoại Dã Can lại muốn thi hùng với muôn sư tử, đống đất tổ kiến đem ví với lực cao núi Tu Di, những hình lớn nhỏ coi thấy rõ ràng, thấp kém lại muốn nghển cao, các ngươi sao lại ngu lỗ quá như vậy?

Lục Sư nói: – Tâu Bệ Hạ! Ngài chưa biết phép luật của chúng tôi, đó là Ngài thiên vị, tự cho ông Cô Đàm (Phật) là người tuyệt đối không còn ai hơn, chúng tôi quyết thử tài một phen hay dở Ngài sẽ rõ!

Vua nói: – Tại sao bữa trước các ngươi không đem tài ra đối phó, nay còn nói khéo nói khôn làm chi?

– Tâu Bệ Hạ! Hôm đó chúng tôi chưa đủ phép lực, bây giờ có đủ khả năng đối thủ!

– Không sao! Muốn thì ta sẽ lên thưa với Phật, nhưng chỉ sợ các ngươi tự để nhục cho hậu thế!

– Tâu Bệ Hạ! Chúng tôi xin hẹn bảy ngày nữa, Bệ Hạ hãy cho dân chúng sửa sang nơi thí tràng bằng phẳng.

Sau khi Lục Sư ra về, nhà vua lên xe đi đến chốn Phật, lễ xong quỳ gối chắp tay thưa rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn Lục Sư còn rắc rối quá; hôm qua chúng lên xin thi thần lực với Thế Tôn, con đã lấy lý luận phân trần và la mắng nhưng bọn chúng còn ra vẻ không chịu. Vậy kính xin Ngài ra sức thần biến để hóa phục bọn tà ác trở về chánh đạo, nhân đấy con và dân chúng được coi sự thần thông biến hóa của Ngài.

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời.

Vua Bình Sa lễ tạ lui ra, về vương cung sắc lệnh cho quân dân sửa sang nơi thí trường, đặt bàn ghế, kê tòa ngồi cao đẹp cúng Phật, chung quanh kết hoa, treo phan phướn, các ngả đường kéo biểu ngữ để cổ động cho dân chúng đến xem.

Tới ngày thứ bảy Đức Phật và các vị đệ tử, từ thành Vướng Xá đi sang nước Tỳ Xá Ly, nước ấy có bọn ông Luật Xương và nhân dân ra đón rước.

Buổi sáng ấy, dân chúng thành Vương Xá xôn xao, không biết Phật đi đâu, hỏi thăm mãi mới biết Ngài đi sang nước Tỳ Xa Ly.

Lục Sư hay tin Phật đi, không ở lại đấu phép đắc chí nói:

Ông Cô Đàm (Phật) trí tuệ và thần biến kém, biết sức không địch nổi nên tìm đường tẩu thoát, thế mà mọi người còn do dự không tin.

Tâm ngã mạn của Lục Sư lên cao quá, tự tuyên bố rằng:

– Chúng tôi sẽ đuổi cho tới cùng.

Được tin Phật sang nước Tỳ Xá Ly, vua Bình Sa lập tức sai sửa soạn lương thực năm trăm con ngựa, năm trăm xe, tổng số quan quân mười bốn ức người, sang nước Tỳ Xá Ly, Lục Sư cũng theo vua sang, chúng thưa với Luật Xương rằng:

– Thưa Ngài! Chúng tôi tới đây muốn để thi thần thông, và đàm luận về thực tính với ông Cô Đàm, xin Ngài cho ông ấy rõ, và hẹn bảy ngày nữa sẽ bắt đầu!

– Vâng! Quí Ngài muốn thế, tôi sẽ thưa với Phật giùm.

Luật Xương tới lễ Phật thưa rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn Lục Sư si mê quá! Tự nói có đạo lực nên xin lên thi thần biến. Vậy kính xin Thế Tôn hàng phục bọn gian ác ấy!

Phật nói: Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Luật Xương lễ tạ lui ra, về sửa soạn nơi thí tràng, lương thực các đồ cúng dàng trọng hậu, dân chúng nôn nao, chờ ngày để xem cuộc đấu thần thông.

Sáng ngày hôm sau, Phật và Tăng chúng đi sang nước Châu Diệm Di, vua Ưu Điền đem quan quân ra đón tiếp. Cũng buổi sáng ấy nhân dân nước Tỳ Xá Ly xôn xao hỏi nhau rằng:

– Sáng nay Đức Phật đi đâu?

– Có người nói: Đức Phật và chúng Tăng sang nước Câu Diệm Di buổi sáng sớm.

Lục Sư thấy thế, tâm ngã mạn lại càng lên cao, và đắc chí lắm, bảo nhau phải theo đuổi cho bằng cùng.

Được tin Phật đi khỏi ông Luật Xương đem năm trăm cỗ xe chở lương lực và bảy ức người cùng với vua Bình Sa sang nước Câu Diệm Di.

Lục Sư vào yết kiến vua Ưu Điền rồi thưa rằng:

– Tâu Hoàng Đế! Sa Môn Cồ Đàm, tự biết lực không địch nổi, nên thầy trò phải trốn sang đây, xin Hoàng đế cho chúng tôi thi thần thông với ông ấy!

– Vâng! Quí Ngài muốn thế tôi sẽ thưa với Phật giùm!

Ngày mai vua Ưu Điền lên bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, Lục Sư ngày qua lên yêu cầu để thi thần thông, kính lạy Ngài có nhận lời ấy không!

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Vua Ưu Điền lễ tạ ra về, sửa soạn nơi thí tràng chờ Phật định ngày đối thí. Sáng hôm sau Phật và Tăng chúng đi sang nước Việt Kỳ, vua Chuân Chân Đà La cùng với nhân dân ra nghinh tiếp đức Thế Tôn.

Hôm sau người nước Câu Diệm Di không thấy Phật, xôn xao hỏi nhau thì có người nói:

– Phật và chư Tăng sang nước Việt Kỳ sáng qua.

Hay tin Phật đi khỏi, Lục Sư và vua Ưu Điền, vua Bình Sa và quan quân dân chúng, cũng đi sang nước Việt Kỳ. Lục Sư vào yết kiến Chuân Chân Đà La và trình bày ý kiến của mình, sau yêu cầu vua làm thế nào được đấu phép với ông Cô Đàm.

Đáp: – Vâng, quí Ngài muốn đấu tôi sẽ thưa với Phật.”

Vua Chuân Chân Đà La lễ lên Phật xong, rồi quỳ thưa những ý định của Lục Sư.

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Nhà vua lễ tạ lui ra, về cung sắc lệnh cho quân sửa soạn và trưng bày nơi thí tràng, sắp tới ngày thi Phật và chư Tăng lại sang nước Đặc Xoa Thi Lợi, vua Nhân Đà Bà Di cùng với quan quân ra đón rước.

Hay tin Phật đi khỏi, vua Chuân Chân Đà La với năm ức người, cùng với Lục Sư vua Bình Sa và tất cả đều theo Phật sang nước Đặc Xoa Thi Lợi.

Lục Sư vào yết kiến vua Nhân Đà Bà Di và khoe khoang những lời cao đại rồi nhờ vua giới thiệu để thi thần thông với Phật. Nhà Vua nhận lời, lên bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, hôm qua Vua các nước và quan quân đến đây đông lắm về việc thi thần thông với Lục Sư, cúi xin Ngài Từ Bi ra phép thần hàng phục kẻ tà đạo, để cho tất cả chúng sanh trong Châu Diêm Phù Đề theo về chánh giáo.

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Ngày thi gần tới, đức Phật lại sang nước Ba La Nại, vua Phạm Ma Đạt hay tin Phật tới, đem quan quân ra biên giới đón Phật về thành.

Buổi sớm mai dân chúng nước Đặc Xoa Thi Lợi, mang các món ăn ra đường đón Phật và Chư Tăng không thấy, hay tin Phật sang nước Ba La Nại, khi đó vua Nhân Đà Bà Di, vua Bình Sa, Lục Sư và tất cả các ông vua đều theo Phật sang nước Ba La Nại.

Lục Sư vào yết kiến vua Phạm Ma Đạt và trình bày ý kiến của mình, lại yêu cầu vua làm cách nào được thi thần thông vời Phật, nhà vua nhận lời.

Sáng hôm sau vua Phạm Ma Đạt lên bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, Lục Sư hôm qua lên xin thi thần thông với Ngài, cúi lạy Ngài ra phép thần biến tiêu diệt bọn ác quỉ hại dân vô ích.

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Đêm ấy và Tăng chúng đi sang Ca Tỳ La Vệ.

Hay tin Phật tới, ông Thích Chủng Bối và đại chúng ra đón Phật về Kinh.

Sớm ngày mai, dân chúng nước Ba La Nại mới biết đức Phật đi du hóa nơi khác.

Hay tin Phật đi khỏi, vua Phạm Ma Đạt, vua Bình Sa, Lục Sư và tất cả quan quân các nước, đi theo Phật, sang nước Ca Tỳ La Vệ.

Lục Sư vào yết kiến ông Thích Chủng Bối và trình rằng: Đến đây mục đích để thi thần thông với Phật, nhà vua nhận lời, và hứa sẽ thưa với Phật giừm.

Ngày mai ông lên lễ Phật xong bạch rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, Lục Sư cố tình theo Ngài đòi thi thần thông, cúi xin từ bi hoan hỷ dẹp bỏ lũ ngoan cố mị dân, cho toàn cõi theo về một mối!

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Ông Thích Chủng Bối sắc lệnh sửa sang nơi thí tràng, và ấn định ngày thi, xong sắp tới ngày thi, đức Phật và Tăng chúng sang nước Xá Vệ, vua Ba Tư Nặc nghe tin Phật tới đem quan quân ra biên giới đón.

Ngày mai ông Thích Chủng Bối mới hay tin Phật đi khỏi. Ông Thích Chủng Bối đem chín ức người, vua Bình Xa, Lục Sư và Vua quan dân chúng các nước, đồng thời kéo sang nước Xá Vệ.

Lục Sư vào tâu vua Ba Tư Nặc rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Chúng tôi muốn thi thần thông với ông Sa Môn Cù Đàm đã qua bao nhiêu nước, sắp kỳ thi ông tự biết không có lực địch nổi nên cùng đại chúng lẩn trốn sang đây, mong Bệ Hạ cho chúng tôi được thi thần thông với ông ấy!

Vua Ba Tư Nặc mỉm cười nói: – Đức Phật có phép thần túc vô ngại, khi mới thành đạo, Thiên Ma Ba Tuần, thiên biến vạn hóa còn phải phục đầu xưng tội, quy y làm đệ tử, lũ ngươi đã ra gì, kẻ hèn mạt, thấp hèn, sao có thể đối với ngôi Đại Pháp Vương được.

 

Lục Sư nghe nói, nổi giận khí sắc biến đổi, tỏ vẻ bực tức vô cùng nói:

Chẳng qua Ngài quá ư thiên lệch nói thế, Ngài đã biết thần biến của chúng tôi chưa?

Nói xong ra về, tỏ vẻ bất mãn trước nhà vua.

Ngày mai vua Ba Tư Nặc đến chốn Phật đầu mặt lễ sát đất quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn Lục Sư ân cần xin thi thần thông, cúi xin ngài ra sức thần, tiêu diệt bọn con buôn không vốn, bịp bợm một cách giả đạo đức, nếu để chúng thì dân tộc trên thế giới này bị đau khổ về vật chất lẫn tinh thần, vì chúng đủ mưu mô mánh khóe lừa gạt lòng người. Xong những người trí thức mới hiểu biết tâm thâm đọc của bọn chúng.

Phật nói: – Hãy biết thế, ta tự tri thời!

Lần này vua Ba Tư Nặc quyết định mời Phật để đấu thần thông, ông sắc lệnh cho quan quân sửa sang nơi thí tràng bằng phẳng, bàn ghế tòa ngồi trang nghiêm, treo cờ phan phướn, lọng, kéo biểu ngữ, kết hoa treo đèn, mua rất nhiều hương hoa trình bày rất đẹp đẽ, ông lên điện nơi đức Thế Tôn ngự, ân cần tha thiết cầu thỉnh. Phật thấy ông nhiệt tâm thành khẩn, nên Ngài nhận lời. Giữa ngày mồng một tháng mười hai Phật ra thí tràng, Lục Sư với vua các nước, dân chúng đều đến đông đảo.

Ngày ấy vua Ba Tư Nặc sửa soạn các món ăn ngon lành, buổi tinh sương dâng Phật một cành dương. Phật dùng nạo răng, nạo xong Ngài vẩy bựa xuống đất, tự nhiên sinh ra những cây cối xanh om, um tùm râm mát, cao đến năm trăm do tuần, cành lá rườm rà, sinh ra những bông hoa to như vòng bánh xe, kết thành những quả to, bằng cái bình đựng năm đấu lớn, cành cây gốc rễ hoa quả thuần bằng thất bảo, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách v.v…, màu sắc tươi đẹp, phát sinh ra những ánh sáng lấn mặt trời, mặt trăng, người được nếm mùi vị quả ấy, thấy sung sướng ngon lành một cách siêu nhiên, nghĩa là trên thế gian chưa từng có, hương thơm tung tỏa, khắp không gian, qua mũi ai, họ thấy tính tình vui vẻ, gió hương ấy thổi tới đâu, làm cho muôn vật hớn hở xinh tươi, các cành lá đều phát ra những tiếng thuyết pháp, trong đại hội im phắc không một tiếng động để đón nghe những âm thanh dịu dàng hòa nhã, nghe vui không chán! Càng nghe càng cảm mến đạo mầu vô thượng, tất cả mọi người trong đại hội thấy sự biến hóa của cây này, tâm sinh tin kính ngôi Tam Bảo càng thêm khắng khít. Sau Phật giải đáp những nghĩa lý sâu huyền cho hợp với lý trí mọi người nên tất cả đều được hiểu ngộ, khi đó những người nhiệt tâm cầu Phật Pháp kết quả được sinh thiên, một số rất đông.

Ngày thứ hai, vua Ưu Điền thỉnh Phật cúng trai. Hôm ấy đức Phật hóa ra hai quả núi báu đứng hai bên, núi này toàn bằng vàng bạc trân bảo hợp lại thành năm sắc huy hoàng, coi rất đẹp đẽ, trên núi có những cây mọc thành từng hàng, hoa quả tốt tươi, trong núi phát ra những mùi thơm ngào ngạt, một trái núi trên đỉnh sinh ra thứ lúa tám cánh, lúa này là một thứ lúa quý nhất trong các lúa, nếu đem nấu cơm thì mềm dẻo hương vị thơm ngon; một trái, ở trên đỉnh có thứ cỏ mềm nhũn thơm tho, béo bổ, những loài súc sinh tới ăn, ăn rồi khí lực sung túc có ánh sánh, phát sinh trí tuệ, tâm tình hòa vui.

Tất cả mọi người thấy phát hiện hai trái núi lạ thường, và họ được ăn quả thấy an vui, thân thể cường tráng hết bệnh tật hết sầu não, nên họ một lòng tín ngưỡng ngôi Tam Bảo, đức Phật tùy theo căn cơ để diễn thuyết nghĩa lý cao diệu nhân quả luân hồi cho hợp với trình độ của họ, ai nấy trí óc khai sáng thấu rõ đạo mầu, phát tâm cầu đạo Bồ đề, kết quả sinh thiên một số rất đông.

Đến ngày thứ ba, vua Chuân Chân Đà La thỉnh Phật cúng dàng, buổi sáng sớm ông dâng Phật chén tịnh thủy, Ngài súc miệng rồi nhổ xuống đất, chốn đó tự nhiên thành một cái ao mỗi bề dài hai mươi dặm, quanh bờ ao thuần bằng ngọc thất bảo trộn lẫn nhau, các sắc phát ra chiếu sáng tưng bừng, nước đủ tám công đức, dưới lòng ao thuần cát thất bảo, trong ao có tám thứ hoa sen lớn như vành bánh xe, xanh, đỏ, trắng, hồng, tía, biếc đủ các sắc, lan tràn bốn mặt, ánh sáng của hoa tùy theo các sắc phát sinh, làm sáng choang trời đất.

Thấy thế tất cả đại chúng đều vui mừng và ca ngợi Phật có đức vô lượng vô biên.

Phật quan sát tâm niệm của từng cá nhân xong, Ngài tùy theo lý tưởng của mỗi người, để thuyết pháp, sau cuộc thuyết pháp này được rất nhiều người phát tâm cao thượng tăng phần phúc nghiệp, sinh thiên rất đông.

Đến ngày thứ tư, vua Nhân Đà Bà Di thỉnh Phật cúng dàng, ngày hôm ấy đức Phật làm cho nơi bảo địa đó, bốn mặt tự nhiên có tám dòng nước, sức chảy mạnh và xoáy kêu thành tiếng, phát ra những âm thanh mầu nhiệm thuần nói các pháp: “Ngũ Căn” “Ngũ Lực” “Lục Độ” “Thất Giác” “Bát Đạo” “Tam Minh” “Lục Thông” “Tứ Đẳng” “Đại Từ, Đại Bi”, mọi người nghe rồi đều được giác ngộ và quán triệt đạo lý, tăng phần phúc tuệ, kết quả sinh Thiên rất đông.

Ngày thứ năm, vua Phạm Ma Đạt thỉnh Phật cúng dàng, hôm ấy nơi miệng đức Phật phóng ra hào quang sắc vàng bao trùm khắp cõi đại thiên; hào quang ấy soi phải chúng sinh nào, thì “ba độc”, “năm ấm” của chúng sinh ấy tiêu tan, thần tâm an lạc, cũng như các vị Tỷ Khưu nhập đệ tam thiền. Khi đó mọi người đều vui vẻ tán thán kính mến đức Phật rất tha thiết. Sau khi nghe thuyết pháp xong ai nấy đều khai tỏ lý trí, phát đạo tâm, tiến tu phúc tuệ, một số khá nhiều.

Đến ngày thứ sáu, ông Luật Xương thỉnh Phật, hôm đó đức Phật làm cho tất cả mọi người trong đại hội tâm hiểu biết lẫn nhau, mỗi người đều có thể hiểu ý nghĩ của từng người, họ đang nghĩ thiện hay nghĩ ác, chí hướng hay hành nghiệp thế nào. Thấy thế ai cũng kính sợ Phật! Những sự mến mộ và vui mừng lại càng nồng nhiệt. Sau khi được nghe lời giảng của đức Phật, ai nấy sung sướng tâm trí mở mang, kết quả sinh Thiên cũng nhiều.

Ngày thứ bảy, ông Thích Chủng Bối thỉnh Phật. Hôm đó Phật dùng sức thần tức vô ngại, khiến cho mọi người trong hội tự thấy mình làm vua Chuyển Luân, có đủ cung điện, quan quân, ngọc nữ, thất bảo, lại thêm một ngàn người con, vua các quan văn võ đều đến triều phục nơi mình. Thấy thế ai cũng kinh hoảng ngơ ngác, không biết tại sao? Sau đó tự thấy như một giấc chiêm bao, ai cũng chứng tỏ do sức thần của Đức Phật hóa hiện, nên lại càng tăng phần tín hướng và phát tâm vô thượng Bồ Đề, kết quả sinh Thiên rất đông.

Đến ngày thứ tám, vua Đế Thích thỉnh Phật, ngày đó vua Đế Thích bày tòa sư tử trang trí nơi Phật ngự, thuần bằng bảo vật trên thiên cung hương trời, nhạc trời, các món ngon quý dâng Phật, một bầu không khí khác hẳn với trần gian.

Đức Phật và Tăng Chúng bước ra, theo sau có vua Đế Thích, vua Phạm Vương, các ông Thiên Tử, tiếp đến quan quân, dân chúng. Tới nơi Phật thăng tòa ngồi yên tĩnh, vua Đế Thích đứng hầu bên tả, vua Phạm Vương đứng hầu bên hữu tất cả đại chúng yên lặng, chờ đón đức Thế Tôn thuyết pháp và hiện thần biến cho xem, muôn ngàn triệu con mắt đều chiếu hướng đức Thế Tôn.

Đức Phật dung nhan như vầng nhật nguyệt, hào quang sáng chói tựa núi vàng, miệng tươi như hoa nở, cất lời nói âm thanh vang xa khắp thế giới đại thiên, muôn loại chúng sinh đều hiểu thấu.

Khi đó Ngài cất cánh tay vàng, vịn xuống tòa ngồi, tự nhiên có tiếng gầm lớn, vang động như sét đánh, mọi người đều giật mình run sợ! Ở dưới tòa sư tử của Ngài nhảy ra năm vị Đại Thần Quỷ nhìn như mặt sắt da đồng gầm tiếng như muôn sư tử thét, chạy xông lại kéo bọn Lục Sư xuống đất đạp tòa ngồi gẫy tan nát, tiếp đến Kim Cương mật Tích, tay cầm chày Kim Cương, trên đầu đầy lửa bốc lên vùn vụt, xông lại đánh bổ vào đầu Lục Sư.

Lục Sư hoảng hồn chạy tán loạn, vừa thẹn vừa nhục, bị thần Kim Cương đuổi, cùng đường, nên chúng đâm đầu xuống sông chết cả. Còn chín ức đồ chúng trở lại theo Phật cầu xin làm đệ tử. Thể theo lòng từ bi, Phật cũng dung thứ và thâu nhận.

Phật nói: – Thiện Lai Tỷ Khưu.

Nói xong, những người ấy rụng hết tóc, áo trên mình biến thành áo Cà Sa, biến thành các vị Sa Môn theo Phật tu hành, không bao lâu hết lậu nghiệp thành La Hán.

Ngày thứ chín, vua Phạm Thiên thỉnh Phật. Ngài hóa thân cao lớn tới cõi trời Phạm Thiên uy nghiêm hiển hách phóng hào quang sáng lớn, tưng bừng khắp cõi Đại Thiên thế giới, khi đó đại chúng ai ai cũng nghe thấy tiếng nói:

Phật vì tất cả chúng sinh, diễn thuyết pháp yếu, khiến cho đại đa số người phát tâm cầu Phật, kết quả sinh Thiên nhiều không kể xiết.

Ngày thứ mười, Tứ Thiên Vương thỉnh Phật. Lúc ấy đức Phật dùng phép Tam Muội vô ngại, khiến cho mọi người thân ấy đều phóng quang minh, và đương thuyết pháp cho đại chúng nghe.

Trong đại hội hiển nhiên tai nghe, mắt thấy những thần thông biến hóa vô ngại của đức Thế Tôn, ai nấy đều tha thiết tôn kính Ngài như đấng Cha Lành. Sau được nghe Ngài giải thích sự diệu dụng của tâm Chân Như vô ngại thể tánh bất diệt vô sinh của mỗi chúng sinh đều có, nên nhiều người giác ngộ dự vào hàng “Bất Thoái” còn những người đắc quả sinh Thiên rất đông.

Ngày thứ mười một, ông Tu Đạt thỉnh Phật. Hôm đó đức Phật đương ngồi trên tòa cao tự ẩn hình đi phóng quang minh sáng lòa trời đất, phát ra những tiếng dịu dàng, diễn thuyết phân minh các pháp yếu. Đại chúng nhiều người thấu tỏ đạo mầu, phát tâm vô thượng chứng ngôi A Duy Việt Chí, đắc quả sinh Thiên khá đông.

Ngày thứ mười hai, ông Cư Sĩ Chất Đà La thỉnh Phật cúng dàng. Ngày đó Phật nhập phép từ bi tam muội phóng quang minh sắc vàng, so khắp cõi đại thiên, hào quang ấy soi vào chúng sinh nào, thì chúng sinh ấy hết tâm “Tam độc” nảy tâm Từ bi, lại có con mắt “Bình đẳng”coi chúng sinh như cha như mẹ, như anh, như em, lòng yêu không thêm bớt, sau khi thuyết pháp nhiều người lên ngôi “Bất Thoái” và đắc quả sinh Thiên khá nhiều.

Ngày thứ mười ba, vua Chuân Chân Đà La thỉnh Phật. Khi Phật thăng tòa ngồi yên tĩnh, nơi rốn Ngài phóng ra hai tia hào quang tỏa ra hai bên, cách thân bảy “nhận” (tức 56 thước) trên đầu hào quang đều có hoa sen, trên hoa có đức Phật hóa hiện, hình tướng cũng như đức Phật Thích Ca, các đức Phật ấy nơi rốn cũng phóng hào quang tẻ ra hai bên cách bảy nhật, trên những tia hào quang đều có hoa sen, trên hoa sen có đức Phật hóa hiện, cứ như thế chuyển biến lan tràn khắp cõi đại thiên, ai coi thấy cũng ngạc nhiên, vừa sợ vừa mừng, trộn lẫn!

Lúc ấy đức Phật theo trình độ của từng người mà thuyết pháp nên nhiều người đắc quả sinh Thiên không kể xiết.

Ngày thứ mười bốn, vua Ưu Điền thỉnh Phật. Hôm đó ông ra sắc lệnh cho các hàng hương hoa phải đem các thứ hương tốt, hoa tươi, quý đẹp vào dâng.

Buổi sáng sớm Hoàng Đế Ưu Điền, Hoàng hậu hoàng phi thể nữ quan quân, âm nhạc ra thí tràng, nhìn thấy Phật ngồi tòa sư tử nghiễm nhiên như quả núi, hai mắt chiếu tinh quang, trông rất tôn nghiêm, ông và toàn thể gia đình cúi đầu lễ Phật rồi dâng hoa lên cúng dàng.

Phật nhiếp phép thần túc biến những hoa ấy thành một ngàn hai trăm năm mươi bảy cỗ xe quý đẹp cao tới cõi trời Phạm thiên sáng như mặt trăng đêm rằm các bảo vật có ánh sáng phản chiếu nhau tưng bừng rực rỡ, như thần châu, tràng anh lạc, trang nghiêm nơi xe ấy, vô cùng tráng lệ.

Trong các xe đều có các đức Phật ngồi, phóng quang minh bao phủ ba ngàn cõi.

Đại chúng coi thấy sức thần biến như thế, trong tâm vừa kính mến, vừa vui mừng pha trộn lẫn nhau.

Đức Phật thuyết pháp cũng như ông thầy thuốc tùy theo bệnh cho thuốc. Vì thế sau cuộc thuyết pháp, có rất nhiều người phát tâm hướng đạo, cũng có người được ngôi “Bất Thoái” kết quả sinh Thiên cũng nhiều.

Ngày thứ mười lăm, vua Bình Sa thỉnh Phật cúng dàng. Hôm đó Phật phán cho ông sửa soạn các món ăn. Theo lời Phật dạy nhà vua sai người bày rất nhiều chén bát và các đồ để chứa món ăn trên bàn, khi bày xong tự nhiên các chén bát đầy các món ăn ngon quý trên thiên cung, mùi cơm thơm ngào ngạt. Tất cả những người trong đại hội ăn cơm xong thân tâm dũng mãnh an vui.

Sau bữa ăn, đức Thế Tôn chỉ ngón tay xuống đất, ai ai cũng được nhìn thấy mười tám Địa Ngục, và thầy rất nhiều tội nhân, những tội nhân ấy, tự nói những tội ác của mình đã tạo đời trước, nên nay họ phải chịu tội khổ.

Thấy thế ai cũng thương hại và sợ hãi cho mình, nên thân thể đều run rẩy không yên!

Để cho mọi người chứng tỏ của sự ác báo, có cụ thể, rồi Ngài phân tách những tội lỗi đó cũng do từ nơi thân miệng ý gây nên, và Ngài vạch vẽ những lối thoát khổ, nên nhiều người phát tâm đại đạo, kết quả sinh Thiên rất nhiều.

Những tội nhân được thấy Phật và nghe thuyết pháp, họ tự phát sinh lòng tôn kính quay đầu về nơi Phật, thì những tội nhân ấy được sinh Thiên hoặc sinh làm người tất cả.

Tới đây vua Bình Sa đến trước đức Thế Tôn, năm thể gieo xuống đất, lễ xuống ba lần, rồi quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn, Ngài có ba mươi hai tướng tốt đẹp, chúng con chỉ được coi thấy tướng ở thân Ngài, hoặc ở tay Ngài, nhưng chưa từng bao giờ được nhìn thấy luân tướng ở gan bàn chân, vậy kính xin cho con và đại chúng ở đây được chiêm ngưỡng.

Theo lời cầu thỉnh của nhà vua, nên Phật ngửa hai bàn chân lên. Đại chúng nhìn thấy trang nghiêm nước da sáng suốt, những đường chỉ thẳng thắn phân minh, rành rẽ, càng xem càng mến! Nhà vua mừng bạch rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Chẳng hay đời quá khứ Ngài làm phước gì, được tướng đẹp này, cúi xin chỉ giáo?

Phật dạy: – Đại Vương nên biết, đời quá khứ ta tu thập thiện và đem thập thiện dạy cho người ta cùng tu, cho nên được luân tướng như thế!

– Kính lạy Ngài! Khi tu và dạy người nghe hãy như thế nào, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được biết.

Phật dạy: – Đại Vương muốn nghe hãy chú ý nghe kỹ: Cách đây vô số kiếp A Tăng Kỳ, cũng Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua nước lớn tên là Đà La Ni Di, thống trị tám mươi tư ngàn nước nhỏ, tám mươi ức tụ lạc, một vạn quan Đại thần, hai vạn bà Phu nhân, nhưng không ai có con. Nhà vua lo tuyệt tự không người kế vị, nên thường hay cầu đạo ở miền Thiên Vương, được ít lâu bà Tu Lê Bà La là đệ nhất Phu nhân có thai, lòng nhân từ bác ái lại hay khuyên người làm lành. Mãn tháng khai hoa, sinh được Thái Tử tướng mạo khôi ngô tuấn tú, một vẻ trượng phu đầu phúc đức, những lỗ chân lông đều có ánh sáng.

Khi bà sanh được Thái Tử nhà vua vui vẻ khôn cùng! Triệu các thầy tướng đến coi. Các thầy tướng đều khen ngợi và nói:

– Tâu Bệ Hạ! Hoàng tử có đầy đủ phước đức oai nghi, sau này có thể trị an bốn bể, thiên hạ phải tùng phục, muôn phương kính nể.

Nghe tướng Sư nói, nhà vua rất hài lòng và nhờ đặt tên cho Thái tử.

Tướng Sư nói: – Tâu Bệ Hạ, trong khi hoài thai có điềm tướng gì lạ không?

Đáp: – Khi đó Hoàng hậu có trí tuệ thông sáng và nhân từ, lại hay khuyên người tu thiện, còn các điềm lành cũng rất nhiều, nhưng có hai điềm ấy lạ hơn.

Tướng sư nói: – Tâu Bệ Hạ! Cứ theo Hoàng hậu có trí tuệ, và Hoàng tử có ánh sáng nơi thân thể thì xin đặt Na Bà La Mãn (Tàu dịch: “Tuệ Quang”)

Quả nhiên Thái tử lớn lên có trí tuệ siêu nhân, tất cả các môn học thuyết đều thông hiểu, các danh nhân hiền triết trên thế giới đều bái phục, lực thông minh của Thái tử. Năm ấy Thái tử chưa đến tuổi trưởng thành, thì vua cha băng hà (chết).

Trong triều các quan và nội cung hoàng tộc làm lễ an táng vua xong. Giữa lúc ấy có đông đủ tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ và triều thần văn võ bản quốc hội họp, bầu Thái tử lên kế vị đại Quốc vương. Thái tử nói:

– Kính thưa các Quốc vương quý quốc và văn võ bá quan, bản triều tôi thực không có năng lực đảm đương đại sự, xin suy tôn các vị có tài đức trị dân!

Các quan đều thưa:

– Thưa Thái tử, đại vương đã qua đời, chỉ sinh được mình Thái tử anh em không có một ai, nếu Thái tử không chịu ra chấp chính bây giờ nhường ai? Ai là người đương nổi?

Thái tử đáp: – Tôi nhận thấy trên đời lắm kẻ tàn ác, nếu ra lệnh hành phạt họ, thì tội ấy không phải nhỏ, nếu các Ngài trị dân chúng dùng chánh pháp và bắt dân tu theo pháp thập thiện thì tôi sẽ nhận chức bảo lãnh việc nước!

Các quan nói:

– Thưa Thái Tử! Xin Thái tử thăng điện nhậm chức!

Theo lời nói, Thái tử thăng điện nhậm chức.

Sau ngày Thái Tử lên làm vua, sửa sang việc nước rất có chánh thể ích quốc lợi dân, bãi bỏ hủ tục mê tín cờ bạc, mãi dâm, hút xách, rượu chè, và bắt dân phải thực hành tu theo thập thiện. Thái tử có đức lớn, lòng từ bi cứu thế cảm động trời đất nên muôn dân vui vẻ tuân theo tu thập thiện, cải tà quy chính, đổi ác làm lành.

Khi đó Ma Vương thấy nhà vua bắt dân tu thiện, lòng đố kỵ nổi giận dùng mưu phá chánh sách tu thiện của muôn dân, chúng muốn cho dân làm nô lệ chết sa vào tam ác đạo, thực là đại ác nham hiểm vô cùng. Chúng mật làm một phong thơ báo cáo cho vua các nước để phá hoại sự giáo hóa tu thập thiện của nhà vua. Thư nói:

“Trước đây tôi có sắc lệnh cho nhân dân tu theo pháp thập thiện nhưng xét ra không được lợi ích gì! Chỉ luống công đau khổ thôi! Thực là một việc không có kết quả cho nhân sinh. Vậy từ nay trở đi cho muôn dân làm mười điều ác, các ông không được cử phạt”

Vua các nước tiếp được lá thơ ấy, lấy làm kỳ dị quá nói:

– Tờ chiếu chỉ của đại quốc vương không biết tại duyên gì bắt dân bỏ điều lành làm điều ác.

Sau các ông vua đều cho sứ thần đến hỏi nguyên ủy của bức thơ.

Khi nhà vua nghe thấy nói có tờ chiếu chỉ do chính mình hạ lệnh bắt dân bỏ thiện làm ác, ngạc nhiên nói:

– Ta tuyệt nhiên không có sắc lệnh như thế, tại sao có tờ chiếu chỉ này.

Lập tức nhà vua và các quan đại thần bản triều lên xe đi các nước, quả nhiên đã thấy nhân dân làm ác, đổi lệnh cũ, theo lệnh mới.

Ma Vương thấy nhà vua đi trên đường lớn tự hóa làm người, đứng giữa đống lửa cháy ở bên lề, kêu khóc thảm thiết, nhà vua đến tận nơi hỏi:

– Tại sao ngươi khóc?

– Tâu Bệ Hạ! Tôi lúc tiền sinh hay khuyên người tu thập thiện nên ngày nay bị quả báo thống khổ như vậy!

Nhà vua nói: – Sao lại có chuyện người tu thiện, mình phải chịu đau khổ?

Nhà vua hỏi tiếp:

– Thế! Anh khuyên người tu thập thiện; mà anh phải đau khổ, thì những người được anh khuyên tu kia có được phước lành gì không?

Đáp: – Tâu Bệ Hạ, những người đó được phước nhiều lắm! Chỉ vì dạy người tu thập thiện nên riêng mình phải chịu quả báo đau khổ, lửa đốt suốt ngày đêm như vầy.

Đây là Ma Vương muốn làm thoái tâm khuyến tu thập thiện của nhà vua, trái lại nhà vua nghe xong rất vui vẻ đáp rằng:

Vâng! Phải lắm tốt lắm! Cốt sao cho chúng sinh hết đau khổ tội lỗi, được phước báu nhiều, còn mình chịu khổ có hận chi!

Ma Vương thấy nhà vua không thoái tâm, liền ẩn hình biến mất rồi đi khắp các nước để tuyên truyền cho dân tu thập thiện. Từ đó nhân dân đều tu theo pháp thập thiện giữ gìn thân, khẩu, ý, ba nghiệp hoàn toàn, chánh pháp lan tràn khắp thiên hạ, tất cả nhân dân tòng phúc, nên đức của nhà vua mỗi ngày một lớn, vì phúc lành ấy xe kim luân và thất bảo tự nhiên hiển xuất, nhà vua bay đi giáo hóa khắp thiên hạ; Nhưng bao giờ nhà vua cũng lấy pháp thập thiện làm đích để chỉ đạo.

Tôi đây Phật nhắc lại cho vua biết rằng:

– Đai Vương! Vua Thi Đà Ni Di thuở đó tức là Phụ vương của ta bây giờ (vua Tịnh Phạn), bà Phu nhân sanh Thái tử lúc đó chính là thân mẫu của ta ngày nay, vua Tuệ Quang dạy dân tu thập thiện là tiền thân của ta. Cũng do đời ấy ta tự tu thập thiện và khuyên dân tu thiện nên nay được phước báu nơi gan bàn chân có ánh quang minh, và ngàn hoa tươi thắm như vậy.

Khi đó vua Bình Sa tới trước lễ Phật quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:

Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn Lục Sư mê muội quá! Không biết lượng sức mình, vì lòng tham danh trục lợi, đem tâm ghen ghét, đòi thi thần thông với Ngài, chúng tự nói: Phật làm được một phần, chúng sẽ làm được hai. Sau khi bị sức thần thông của Thế Tôn làm trấn át, chúng hết thế lực tẩu thoát, cùng đường đâm đầu xuống sông tự tử, còn đồ đệ chạy tán loạn tự chúng gây nên tai nạn muôn đời, con nghĩ lũ mê cuồng ấy không biết căn duyên tại sao, xin Thế Tôn chỉ giáo?

Phật đáp: – Đại Vương! Nên biết bọn Lục Sư chẳng những ngày nay tranh lợi tranh danh với ta, mất thân mạng thế đâu! Đời quá khứ chúng đã tranh với Ta một lần, nhưng đều bị thất bại. Ta lại đoạt được cả đồ đảng của chúng nữa.

Vua Bình Sa lại bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Việc đó thế nào cúi xin chỉ giáo?

Phật dạy: – Đại vương hãy để ý nghe, trước đây đời quá khứ vô lượng vô số kiếp A Tăng Kỳ cũng Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua tên là Ma Ha Xa Cừu Lợi, thống trị năm trăm nước nhỏ, vua có năm trăm phu nhân nhưng chưa bà nào có con trai. Vua tự nghĩ rằng: “Tuổi ta đã cao lại không có con để nối quốc vị, một sớm băng hà lấy ai để bảo tồn chính thể của quốc gia biết giao phó cho ai? Tất nhiên trong nước có sự tranh giành tàn sát lẫn nhau nhân dân sẽ bị nguy ngập.

Nghĩ thế rồi chưa biết giải quyết ra sao? Nên lúc nào ông cũng buồn!

Vua Đế Thích trên thiên cung biết ý nghĩ của nhà vua như thế, liền từ trên trời bay xuống hóa làm một ông thầy thuốc đến vương cung xin vào yết kiến vua, và hỏi ngay ý nghĩ lo buồn của nhà vua. Nhà vua cũng đem ý nghĩ của mình như trên nói cho ông rõ.

 

Ông trả lời rằng:

– Xin Bệ Hạ chớ lo! Để tôi đi vào núi tuyết lấy các vị thuốc cho các phu nhân của Bệ Hạ uống thì sẽ có thai.

Nhà vua nghe nói tâm buồn đã nguôi nguôi, và bảo thầy thuốc rằng:

– Thưa Ngài nếu được như thế thì còn gì hay hơn nữa.

Thầy thuốc từ biệt lên đường vào núi, cách ít ngày lấy được rất nhiều dược thảo đem về dâng vua, bạch rằng:

Nói rồi vái chào ra về, vua hỏi:

– Thưa Ngài, thuốc này sẽ lấy bao nhiêu tiền?

Đáp: – Tâu Bệ Hạ, đây tôi xin giúp Bệ Hạ chứ không lấy tiền.

Nói xong ẩn hình biến mất, nhà vua thầm nghĩ: “Người này là thần nhân ủng hộ có lẽ hay lắm, rất có kết qủa cho ta”.

Sau khi Đế Thích về, nhà vua sai người lấy sữa nấu lẫn với thuốc, dâng bà Đệ nhất Phu nhân uống. Song bà chê bẩn và không tin, nên không chịu uống thuốc đó, các bà Tiểu Phu nhân chia nhau uống hết quả nhiên được ít lâu các bà ấy đều có thai, và đem sự kết quả uống thuốc nói cho bà lớn biết. Bà lớn có ý hối hận hỏi:

– Thuộc ấy có còn thừa chút nào không?

Các bà đáp: – Thưa bà! Hết cả!

– Vậy các được thảo có còn không?

Các bà đáp: – Thưa bà hãy còn một ít!

Bà Đại Phu nhân sai người lấy sữa nấu thuốc dùng được ít lâu thấy có thai, bà vui mừng thầm trong dạ và cũng không nói cho các bà biết.

Các bà Tiểu Phu nhân đầy tháng đều sinh con trai, nhân tướng khôi ngô tuấn tú, nhà rất sung sướng, vì các bà đã sinh được nhiều quý tử. Nhưng vua vẫn áy náy trong lòng, là vì Đại Phu nhân chưa có con!

Một thời gian sau trăng tròn nguyệt mãn, bà Đại Phu nhân sinh được cậu con trai, nhưng rất buồn thay cho bà, cậu con trai của bà xấu quá, mặt mũi xù xì hình như quỷ sứ. Buồn quá! Đặt lên là Đa La Hầu Đà (Tàu dịch “Chu Ngột”), Hoàng hậu giao cho người vú nuôi nấng ở một nơi và không cho ai biết.

Từ đấy trở đi trong nước vẫn được thanh bình, nhân dân an lạc, sau khi các Thái Tử nhà vua đều cưới vợ cho cả, duy Chu Ngột xấu quá nên nhà vua không để ý tới.

Bấy giờ nước bên cạnh có sự bất bình với vua Ma Ha Xa Cừu Lợi, mang binh tiến sang để khởi chiến, năm trăm Vương Tử mang quân ra chống cự, song bị thất bại chạy về.

Chu Ngột thấy thế hỏi:

– Hôm nay các anh ra chiến đấu thắng hay bại, coi có vẻ sợ hãi thế?

Đáp: – Hôm nay chiến đấu bất lợi, bị giặc đuổi lui!

Chu Ngột nói: – Các anh chớ lo, tôi sẽ đánh đuổi cho bằng hết, tổ tiên chúng ta trước làm Chuyển Luân Thánh Vương còn để lại trong Thiên Tự một cái cung lớn và một cái bối, tôi sẽ dùng hai bảo vật ấy đuổi giặc thành công. Chu Ngột vào Thiên Tự lấy cung và bối đem ra giương thử, tiếng kêu như sấm, vang xa bốn mươi dặm. Rồi một mình ra đi, khi tới chỗ giặc đóng quân, Chu Ngột cầm bối thổi tiếng kêu như sét đánh, giặc nghe sợ kinh hồn chạy tán loạn; như vậy không cần phải đánh cũng tan. Khi dẹp yên được địch quân xong, trở về nhà, vua và quần thần văn võ bá quan ra đón chào về cung, từ đó mới được sự yêu đãi của Vương phụ.

Sau cuộc ăn mừng đuổi giặc nhà vua nghĩ đến sự kết hôn cho Thái Tử, nhưng cũng khó, là vì Thái tử xấu quá.

Thời đó có ông vua nước láng giềng tên là Luật Sư Bạt Ta, có người Công Chúa xinh đẹp nhưng chưa lấy chồng.

Một hôm nhà vua gọi quan đại thần vào nói rằng:

– Vua Luật Sư Bạt Ta có một Công Chúa nghe biết chưa lấy chồng, ta muốn nhờ ngươi sang xin đẹp duyên cùng Thái Tử Chu Ngột, nhà vua có hỏi đến tướng mạo của Thái Tử thì người coi tướng anh của Thái Tử mà diễn tả bộ dạng cho biết.

Đại thần vâng lệnh ra đi, sang tới nơi lên tâu vua rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Tôi là sứ thần của vua Ma Ha Xa Cừu Lợi vâng lệnh sang đây, xin Bệ Hạ cho Thái Tử Chu Ngột được làm Phò Mã của ngài.

Nhà vua hỏi: – Thái tử bao nhiêu tuổi? Hình dáng ra sao? Học vấn thế nào?

Đáp: – Thái tử năm nay tuổi vừa đôi tám, tướng người đẹp đẽ, sức lực hùng mạnh, trí óc thông minh.

Nhà vua gật đầu nói: – Nhà ngươi về tâu vua: Ta đồng ý gả Công Chúa cho Thái Tử. Đại thần về tâu vua sự thỏa thuận của Quốc Vương láng giềng hứa gả Công Chúa cho Thái Tử, vua rất hoan hỷ! Sai người sửa soạn lễ vật đính lễ nghinh hôn, cuộc lễ này cũng rất buồn cười: Là vì chú rể mượn!

Khi về đến hoàng cung yến tiệc rất linh đình, mọi người vui vẻ ca hát mừng đôi loan phượng. Nhưng có một điểm là Công Chúa khi về tới hoàng cung không nhìn thấy mặt chồng.

Nhà vua dặn Chu Ngột ban ngày chớ để vợ nhìn thấy mặt.

Theo lời Vương Phụ dặn, cứ tối khuya im lặng. Chu Ngột mới đến để vui thú cùng vợ…

Chu Ngột đến, Công Chúa hỏi:

– Lúc ban ngày anh đi đâu không thấy?

Đáp: – Ban ngày anh phải đem quân ra trấn các cửa ải, hồi này nước ngoài luôn luôn đem binh sang xâm lược nước nhà, anh đều đẩy lui được bọn chúng, nên mới có trọng thưởng của nhà vua.

Công Chúa hỏi: – Anh được trọng thưởng những bảo vật gì?

– Trộng thưởng thứ nhất là được em, ngoài ra thì không đáng kể.

Công Chúa nghe nói rất hân hạnh vui dạ!

Một buổi nọ vợ các vương tử hội họp với nhau, cô nào cũng khoe tài đức của chồng mình có lực hùng mạnh, tươi đẹp, có công đuổi giặc dẹp nước yên dân, có thiếu phụ khác lắc đầu lè lưỡi nói:

Thôi cô đừng nên nói nữa, chồng cô xấu lắm, người chẳng khác, phải quỷ thì không, ban ngày nếu cô nhìn thấy, cô sẽ thất kinh hoảng hồn.

Vợ Chu Ngột nghe nói khí sắc biến đổi, vừa nhục vừa thẹn. Nhưng cố nhẫn lẳng lặng ghi lại tâm. Trở về tư thất giấu đi một cái nến để nơi kín, chờ tối chồng đến an nghỉ xong, cô đưa nến soi xem mặt, quả nhiên thấy hình tướng đáng sợ hãi thật, xấu thật, thực là trên đời chưa có một ai xấu đến như vậy! Cô chờ chồng ngủ mệt, giữa đêm khuya thanh vắng ra xe trở về nước nhà.

Trời vừa tảng sáng, Chu Ngột thức giấc không thấy vợ; chạy trước nhìn sau tuyệt nhiên không thấy ảnh bóng một ai, biết đích vợ mình đã bỏ đi; trong lòng buồn tức, giận đâu nổi lên, ầm ầm vác cung cầm bối lên ngựa đuổi theo không kịp. Khi tới nước kia nghi trọ tại một nhà ông quan bên đó.

Thời ấy có sáu ông vua nước bên cạnh, biết vua Luật Sư Bạt Ta có người con gái đẹp, hay tin cô đã trở về nước, nên sáu ông đồng thời tiến quân sang biên thùy, đưa thư cho vua xin cầu hôn.

Vua Luật Sư Bạt Ta rất phiền não, trong lòng bối rối, vì không biết giải quyết thế nào? Nên nhà vua cho triệu tập tất cả các triều thần văn võ bá quan lại thảo luận.

Luật Sư Bạt Ta nói:

– Công Chúa hiện đã về tới bản quốc, tôi vừa mới tiếp được sáu phong thư của sáu quý quốc, xin đính hôn cùng Công Chúa, nếu cho một ông thì đối năm ông kia làm thế nào cho khỏi gây lòng oán hận, giờ đây bá quan giải quyết thế nào cho đẹp lòng cả thì hơn?

Có một ông quan đứng lên thưa rằng:

– Tâu Bệ Hạ đem phanh công chúa ra làm sáu phần, chia cho mỗi người một phần thì việc đó sẽ yên.

Lại có một ông đứng lên thưa rằng:

– Tâu Bệ Hạ bây giờ hãy ra một tờ cáo thị như sau: Nếu ai có tài đánh đuổi được quân giặc thì sẽ gả Công Chúavà chia nước cho một nữa, ngoài ra còn ân thưởng rất nhiều.

Vua đồng ý viết bảng cáo thị.

Đa La Hầu Đà (Chu Ngột) nghe biết giật bảng cáo thị, mang cung cầm bối xuất trận, thổi còi giương cung bắn, các quan quân của sáu ông vua đều kinh khủng chạy tán loạn mất cả. Chu Ngột tiến vào hạ thủ sáu ông vua, thu bắt rất nhiều binh nhung sĩ chúng.

 

Vua Luật Sư Bạt Ta hay tin Chu Ngột đã chiến thắng, thân ngự ra ngoài thành đón tiếp, và biết rằng: Chính Chu Ngột con vua Ma Ha Xa Cừu Lợi, anh hùng đã nổi tiếng, hơn nữa lại là con rể của ngài, nhà vua rất hoan hỷ.

Sau khi về hoàng thành xong cuộc yến tiệc ăn mừng thắng trận, nhà vua và bá quan suy tôn Chu Ngột làm Đại Vương thống trị bảy nước.

Chu Ngột thăng điện nhậm chức bảo lãnh chánh quyền, đặt lại các việc triều chính, sửa đổi chính sách, mở mang văn hóa, đặt các lễ nghi theo chánh giáo, dạy dân có đạo đức, phế bỏ hủ tục, và những tà thuyết mị dân, xếp đặt các công việc xong xuôi rồi cùng vợ kép quân về nước.

Hay tin Thái Tử Chu Ngột về nước, nhà vua và các quan quân thân ra ngoài biên cương đón. Khi về tới hoàng cung, nhà vua biết Chu Ngột có đủ tài đức, nên cất làm Đại Vương. Chu Ngột không chịu tâu rằng:

– Muôn tâu Vương Phụ! Xin ở tại ngôi, việc ấy sẽ chưa nên.

Nhà vua cũng phải chiều theo ý định của Thái Tử, xong cuộc vui mừng này, quan quân đều giải tán đâu về đấy.

Chu Ngột Thái Tử đưa vợ về cung an nghỉ, lúc đó trách vợ ăn ở bạc tình, có ý phàn nàn không thật làm giao kết lương duyên, trăm năm trọn đạo!

Công Chúa thưa rằng:

– Thưa Thái Tử! Vì Thá Tử xấu quá, coi dữ dằn quá em rất kinh và hình như không giống người nên em mạn phép ra đi.

Chu Ngột lấy gương soi thấy mình quả nhiên xấu thật, sự thật không khác gì quỷ, tự nghĩ rằng:

– Mình vị thân hình xấu ác, không sống với vợ, để vợ sợ hãi cũng không nên.

Tự phát tâm chán ghét không muốn có thân ấy nữa, ra nơi rừng xanh để tự sát, khi sắp buộc dây treo lên cành cây, vua Đế Thích ở xa ngó thấy liền bay đến tận nơi hỏi.

Chu Ngột đáp: – Tôi bị thân hình xấu quá nên muốn tự sát ở nơi đây.

Vua Đế Thích khuyên can đem cho hạt ngọc minh châu dặn rằng:

– Xin dâng tặng Ngài hạt ngọc minh châu này để trên đầu, sẽ được thân hình đoan chính tươi đẹp như tôi.

Chu Ngột cảm tạ nhận lấy bạt châu để trên đỉnh đầu, quả nhiên thân thể đổi xấu thành đẹp.

Khi trở về nhà, không bảo cho vợ hay, đi luôn vào bảo tàng lấy cung và bối. Công Chúa thấy chàng thanh niên tươi trẻ tự do vào lấy cung và bối, ngạc nhiên hỏi:

– Anh là người nào dám tự tiện vào lấy cung của chồng tôi?

Chu Ngột mỉm cười đáp: – Anh là chồng của em đây!

Công Chúa nói: – Anh này điên dở, chồng ta lẽ ta không biết sao? Anh là kẻ nào dám vô lễ tự xưng là chồng ta?

Chu Ngột cười nấc cười nở đưa tay lên đầu lấy hạt minh châu xuống, hiện lại nguyên hình xấu, thấy sự biến chuyển lạ, Công Chúa nửa mừng nửa lo hỏi tiếp:

– Tại sao có sự lạ như vậy, xin nói cho tôi rõ?

Chu Ngột nói rõ câu chuyện được hạt minh châu cho Công Chúa xem, Công Chúa vui mừng tin thực.

Từ đó vợ chồng yêu nhau không có sự ngang trái nữa, và bỏ tên Chu Ngột đổi là Tu Đà La Phiến.

Sau một thời gian Tu Đà La Phiến muốn xây cất một thành trì lớn, tìm nơi đất bằng phẳng cao mát rộng rãi, sắc lệnh cho nhân dân kiến lập tại đó.

Khi đó bốn ông Long Vương hóa hình làm người, lại tâu vua rằng:

– Tâu Bệ Hạ, nghe biết Bệ Hạ muốn xây thành, vậy dùng vật gì để làm?

Nhà vua đáp:

– Tôi làm bằng đất!

Long Vương thưa: – Sao ngài không dùng thất bảo mà kiến thiết?

Đáp: – Thất bảo là thứ quý giá nhất, và ít ỏi nhất, thành lớn, quý ngài tính lấy đâu mà được?

Long Vương thưa: – Tâu Bệ Hạ! Để chúng tôi xin cung cấp đủ cho ngài làm!

Long Vương nói xong, ngay bốn bên khu vực đất ấy, biến thành bốn cái suối lớn. Long Vương chỉ vào bốn cái suối ấy thưa rằng:

– Bệ Hạ dùng nước suối phương Đông xây cất, thì thành này hóa ra ngọc lưu ly; dùng nước suối phương Nam xây cất, thì thành này hóa ra vàng; dùng nước suối phương Tây xây cất, thì thành này hóa ra bạc; dùng nước suối phương Bắc xây cất, thì thành này hóa ra pha lê.

Nhà vua nghe nói, cảm tạ Long Vương. Bắt đầu xây cất, quả nhiên lời nói của Long Vương là đúng.

Thành ấy quy vuông bốn trăm dặm, trong thành làm các cung điện lầu các; mỗi cung quy vuông bốn mươi dặm: Cung điện, đường đi, nhà lớn, nhà nhỏ, rừng cây, ao tắm, trường thành, thuần bằng ngọc lưu ly, pha lê, vàng, bạc, cực kỳ trang nghiêm đẹp đẽ, chẳng khác Thiên Cung. Ngày hoàn thành này được bãy thứ báu ngọc tự nhiên đầy kho đụn. Tu Đà La Phiến ngự trị thành này, từ đó bắt đầu dạy dân tu theo mười điều lành (Thập Thiện).

Nói tới đây, Phật nhắc cho vua Bình Sa biết rằng:

Bình Sa! Ông nên biết vua Ma Ha Xa Cừu Lợi thuở đó hiện nay là Vương Phụ của ta (Tịnh Phạn Vương), bà mẹ sinh Chu Ngột thuở đó nay là Thân Mẫu của ta (Ma Da Phu nhân). Vương Tử xấu (Chu Ngột) thuở đó chính là tiền thân ta, vợ Vương Tử xấu lúc đó chính là Cù Di ngày nay; ông thân của vợ Vương Tử lúc đó ngày nay là ông Ma Ha Ca Diếp. Sáu ông vua lúc ấy dùng binh sĩ áp bức để lấy Công Chúa của vua Luật Sư Bạt Ta, chính là Lục Sư bây giờ.

Thời ấy bọn ông ấy đã tranh sắc thanh tài với ta, bị thất bại; ngày nay cũng do lòng tham danh trục lợi, đòi đấu sức thần thông, không đủ lực chống đỡ, cùng đường đâm đầu xuống sông tự sát, còn chín ức đồ chúng quay về theo ta làm đệ tử.

Vua Bình Sa lại bạch Phật:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Thái Tử Chu Ngột đời trước trồng nhân lành gì được sinh làm con vua, có sức lực hùng mạnh và tại sao bị thân thể xấu, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được rõ.

Phật nói:

– Đó là một nhân duyên từ đơi蠱uá khứ, tới nay đã vô lượng kiếp không thể tính được, cũng Châu Diêm Phù Đề có một nước lớn tên Ba La Nại, nước ấy có một ông tiên, tu trong núi tên là Luật Sư. Trong núi ông tiên ấy có một vị Bích Chi Phật, người bị chứng bệnh phong, một hôm ngài đến nhà hàng dầu, xin dầu muốn để trị bịnh. Người chủ nhà hàng dầu phát lòng nóng giận lớn tiếng la mắng nói:

– Đầu anh như Chu Ngột (gốc cây cụt), như cục gỗ, tay chân phê tởm, khờ khờ khoạng khoạng chỉ rình ròm xin người không đem tiền mua chỉ muốn lấy không?

Tuy nói thế nhưng anh hàng dầu cũng cho một chút dầu cặn, song Ngài cũng không buồn giận gì lời nói lỗ mãng ấy, vẫn thản nhiên lấy dầu. Khi ra khỏi nhà gặp vợ ông hàng dầu về, bà ta bả lả hỏi han, một vẻ kính trọng nói:

– Khoái Sĩ từ đâu tới đây, dùng dầu cặn làm gì?

Đáp: – Tôi dùng để chữa bịnh phong.

– Thưa Ngài xin trở lại để con xin dâng cúng thứ dầu tốt!

Ngài cũng hoan hỷ đi. Tớn nhà, bà dâng một chén dầu trong trẻo, dâng rồi la chồng rằng:

– Anh thật không hiểu biết chi cả, tại sao anh lại cúng Ngài dầu cặn, anh phải sám hối Ngài cho khỏi cái tội của miệng anh.

Ông hàng dầu này cũng có thiện tâm, hối hận trong lòng ra xin lỗi, Ngài cũng hoan hỷ. Khi đó hai vợ chồng đều thưa với Ngài rằng:

– Thưa Ngài: Vợ chồng con xin nguyện chung thân cúng dàng, ngài muốn dùng gì xin cứ lại đây chúng con dâng.

Từ đó vị Bích Chi Phật hằng ngày lại lấy các món ăn dùng và dầu.

Trước khi vào Niết Bàn, nhân cảm cái ơn ấy vị Bích Chi Phật hiện ra mười tám phép thần túc cho vợ chồng hàng dầu biết.

Bay trên hư không, trong mình phun ra nước, dưới mình hóa ra lửa, thân thể khi phân khi hợp, hiện biến rất nhiều phép lạ.

Vợ chồng hàng dầu thấy thế, biết rằng Ngài đã đắc đạo vui mừng khôn xiết, tự hận mình có lỗi nên bảo vợ rằng:

– Em hoan hỷ cúng dàng Ngài, tương lai sẽ được nhờ phúc báo thì cho tôi chung hưởng và cùng làm vợ chồng như nay nhé!

Đáp: – Anh đối với Ngài tệ ác và cúng dầu cặn, sau này có sinh nơi nào, dĩ nhiên phải chịu quả báo xấu, thì làm sao kết duyên cùng anh được?

Chồng nói: – Tôi cũng chịu sự cực khổ làm ăn, của là của chung, đâu có phải một mình em làm ra được, mà nói: không cho chung và không cho làm vợ chồng. Nghĩa là phúc là phúc chung, đâu phải một mình em hưởng được.

– Vâng! Nếu kiếp sau tôi có phải làm vợ anh đi chăng nữa, nếu anh xấu đêm tôi sẽ bỏ anh tôi đi!

– Nếu em đi anh sẽ đuổi cho bằng được!

Hai vợ chồng nói xong, rồi hứơng lên vị Bích Chi Phật thành tâm sám hối.

Khi đó Ngài bảo rằng:

– Do sự cúng dàng dầu của vợ chồn anh, nên ta được khỏi bịnh, muốn cầu nguyện gì ta cho tùy ý.

Hai vợ chồng hoan hỷ quỳ thẳng chắp tay phát nguyện rằng:

– Kính xin Tôn giả, nguyện cho vợ chồng con trên trời hoặc nhân gian, sinh chốn nào cũng được tôn sang phúc tuệ đầy đủ, muốn gì cũng được toại ý.

Tới đây, Phật nhắc lại cho vua Bình Sa biết rằng:

Nhà vua nên biết: Người hàng dầu thuở đó chính là Chu Ngột, vợ của hàng dầu chính là vợ của Chu Ngột thời ấy, thuở đó ông hàng dầu mắng vị Bích Chi Phật thân người xấu như Chu Ngột (gốc cây tre cụt) và tay như cái trục, lúc cho dầu có sắc giận tức. Vì thế nên bị quả báo xấu, cũng theo đúng như khi phát lời nói mắng vị Bích Chi Phật không khác, sau biết ăn năn sám hối vui vẻ cúng dầu tốt, cho nên sinh xứ nào cũng được tốt đẹp; cũng do sự cúng dầu nên được nhiều sức khỏe, ngàn muôn người không địch nổi, hơn nữa lại còn được làm Chuyển Luân Vương, hưởng phúc bốn cõi, năm món dục đầy đủ thụ dụng. Thiện nghiệp hay ác nghiệp, báo ứng không sai thù, vì thế tất cả chúng sinh phải nên giữ đạo làm thiết yếu, cẩn thận nơi thân miệng, ý chớ nên dùng nó mà tạo những điều xấu ác!

Phật nói xong vua Bình Sa và tất cả vua, quan dân chúng các nước với bốn bộ đệ tử, trời rồng, quỷ thần có người chứng quỉ thần, có người chứng quả Tu Đa Hoàn, người được quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm; cho đến quả A La Hán, cũng có người gây nhân Bích Chi Phật, cũng có người phát tâm Bồ Đề cho đến ngôi Bất Thoái, tất cả đều hoan hỷ lễ kính dưới chân Phật mà lui.

 

 

Phẩm thứ mười lăm: CỨ ĐÀ THÍ THÂN

Chính tôi được nghe Một thời đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ, tại núi Kỳ Xà Quật.

Đức Thế Tôn khi đó bị cảm chứng phong, các đệ tử đi triệu ông Kỳ Vực Y Vương vào điều trị, ông hòa ba mươi hai vị dược tô dâng lên và bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Thời khí năm nay bất hòa, biến nhiều thứ bệnh lạ, con thành kính luyện thứ thuốc này, cúi xin mỗi ngày dùng ba mươi hai lạng.

Đức Thế Tôn hoan hỷ nạp thụ và chú nguyện cho ông.

Thuở đó ông Đề Bà Đạt Đa thường đem lòng ghen ghét với Phật, tự cao tự đại, ý muốn ngang hàng với Phật, nghe biết Phật uống dược tô cũng gọi ông Kỳ Vực luyện thuốc cho uống.

Khi ông luyện xong dâng Ngài và thưa rằng:

– Thưa Ngài! Thuốc này mạnh lắm, mỗi ngày chỉ dùng được bốn lạng!

Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi: – Phật uống ngày mấy lạng?

– Thưa Ngài! Phật uống mỗi ngày ba mươi hai lạng!

Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi:

– Vì lẽ gì Phật uống nổi ba mươi hai lạng mỗi ngày? Ta chỉ uống được bốn lạng thôi?

– Thưa Ngài! Phật khác! Ngài khác! Nếu Ngài uống như Phật, tất bị tổn thương đến thân thể!

– Ta uống cũng có đủ lực tiêu hóa, thân ta, thân Phật khác chi, để ta uống coi, có hiệu lực như Phật không!

– Thưa Ngài! Việc đó xin tùy ý, nhưng xảy ra chúng tôi không chịu trách nhiệm!

– Dĩ nhiên! Ông khỏi lo.

Ông Đề Bà Đạt Đa cân đủ ba mươi hai lạng uống luôn một lúc, uống xong ông ngã quay lơ, sùi bọt mép như đống xà bông, vật giường trên, lăn xuống giường dưới, kêu lên rầm rĩ.

Đức Thế Tôn thương ông đau đớn, nên Ngài từ xa duỗi cánh tay vàng, bằng lực thần thông tới xoa đầu cho ông, thuốc ấy nhờ sức từ bi được tiêu hóa, bệnh hoạn tan không, thân tâm an lạc! Nhìn lên thấy tay Phật, ông tự nói rằng:

– Tất Đạt có nhiều phép lạ, với đời vô dụng, giờ lại học nghề thuốc đều cầu danh lợi.

Tôi (A Nan) nghe thấy ông thốt ra lời vô nhân nghĩa quá nên quỳ xuống bạch Phật:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Ông Đề Bà Đạt Đa vô ân bất nghĩa quá! Ngài cứu cho khỏi, không cảm ơn thì thôi, lai thốt ra những lời tệ bạc, sao lại có những lòng dạ như vậy? Luôn luôn chỉ một niềm ghen ghét với Thế Tôn?

Phật bảo tôi rằng:

– A Nan! Đề Bà Đạt Đa, chẳng những ngày nay mang lòng nham hiểm hại ta đâu, đời quá khứ đã dùng mưu này kế khác hại ta.

Tôi lại thưa rằng: – Kính lạy Ngài, không hay đời quá khứ ông ấy làm hại thế nào, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được rõ?

Phật dạy: – Ông hãy nghe kỹ, tôi vì ông mà nói!

– Dạ! Con xin đón nghe.

Phật dạy: – A Nan! Ông nên biết, đời quá khứ cách đã rất lâu kiếp A Tăng Kỳ tới số không thể tính xuể, cũng ở Châu Diêm Phù Đề này, có một nước lớn tên là Ba La Nại, ông vua nước ấy tên là Phạm Ma Đạt tính nết hung tàn không có từ tâm, lại ham mê sắc dục làm tổn thương cho muôn loài, nọc độc nằm chặt trong đáy lòng.

Một hôm ông nằm mộng thấy con thú lông vàng, trên những đầu lông tía ánh sáng sắc vàng tỏa ra hai bên tả hữu. Khi tỉnh giấc ông tự nghĩ con thú ta vừa mộng thấy trên đời này ắt phải có. Nghĩ rồi cho triệu tập các người đi săn lại phán rằng:

– Các khanh! Hôm nay mời các khanh vào đây, muốn nói một câu chuyện trong mộng của ta cho các khanh rõ: Đêm qua vào lúc canh ba đương ngon giấc, ta thấy một con thú, lông trên mình toàn sắc vàng, trên những đầu lông phóng ra những tia sáng, ta chắc rằng trên rừng cũng có loài thú như vậy các khanh tìm bắt lấy nó, rồi lột lấy da cho ta, ta sẽ trọng thưởng cho con cháu các khanh bảy đời được đầy đủ vật dụng ăn uống, nếu không để tâm tìm bắt cho ta, ta sẽ tiêu diệt hết họ hàng nhà các khanh.

Các người sợ toát mồ hôi! Nhưng không biết trình bày làm sao! Đều lạy tạ lui ra.

Trở về họ hội họp lại một nơi để giải quyết công việc nhà vua vừa giao phó như sau:

– Thưa các bạn, việc này rất khó cho bọn mình: Nhận thấy từ thuở biết cầm cái súng đi săn đến nay, tôi chưa từng nhìn thấy con thú như nhà vua nằm mộng! Nếu bọn ta không bắt được con thú lông vàng, họ hàng chúng ta sẽ bị hạ sát dưới tay cường quyền áp bức của nhà vua. Chi bằng tụi mình đưa vợ con trốn sang nước ngoài làm ăn cho thoát!

Một thanh niên tiếp rằng:

– Thưa quý bạn! Nhận thấy trong núi này độc trùng ác thú rất nhiều, đường sá nguy hiểm, có ngày đi không hẹn ngày về, ngụ ý của tôi chỉ mượn người hộ là hơn!

Mọi người đều tán thành! Sau mượn được một người đến, họ sẽ làm lời cam đoan rằng: – Anh hãy tận tâm vào rừng săn hộ tôi con thú lông vàng, trên đầu lông có ánh sáng, nếu anh được tốt lành trở về, chúng tôi sẽ trọng thưởng cho anh một số vàng bạc; nếu anh bị hại nơi rừng xanh, chúng tôi sẽ đem số vàng bạc đó cho vợ con anh ăn dùng.

Người ấy tự nghĩ như vầy: – Ta vì sự cứu người, dầu mất mạng cũng cam lòng.

Nghĩ xong nói: – Thưa quý bạn, tôi xin bảo lãnh việc đó giúp quý bạn và tôi nguyện rằng nếu được thành công mới trở về.

Họ đều vui mừng! Sắm sửa lương thực tiền bạc để anh đi ăn đường.

Khi bắt đầu ra đi, mọi người đều chúc anh được mọi sự tốt lành trở về, anh từ giã ra đi, đi lâu ngày trải bao những sự gian hiểm, lương thực gần hết, bị đói khát, thân thể gầy còm, sức lực mỏi mệt, qua bãi sa mạc trời nắng làm cho bãi cát như rang, như nấu, khí nóng bức lên ngùn ngụt, mồm khát, cổ khô, chỉ còn chờ tắt hơi là qua đời. Đương lúc cùng cực đau khổ, thốt ra lời nói:

– Ai là người có lòng từ bi, thương đến tôi, cứu được thân mạng tôi giờ?

Trong núi ấy có loài dã thú tên là Cứ Đà, lông vàng vì trên đầu lông có ánh sáng, nó nghe thấy đằng xa có tiếng người kêu cứu; động lòng thương dấn thân đi tìm qua những dòng suối nước lạnh, tới nơi thấy một người nằm phơi trên mặt đất hình như sắp chết, nó ủ ấp bằng thân của nó, hồi lâu tỉnh táo, nó bế tới một khe nước, tắm gội cho mát, rồi đi lấy các thứ quả ngon về cho ăn, ăn xong thân thể được khỏe mạnh.

Người đó khi tỉnh dậy tự nghĩ như vầy:

– Con thú lông vàng này! Chính ta đương đi săn bắt nó đem nộp cho nhà vua, song lúc ta gặp cơn nguy biến, được nó cứu thoát, ơn ấy ta chưa đền đáp nỡ đâu lại còn hại nó. Nhưng nếu không bắt nó nộp cho nhà vua thì tất cả nhà những người đi săn kia đều bị giết chết.

Nghĩ thế rồi trong lòng rầu rĩ khó giải quyết.

Cứ Đà hỏi: – Tại sao anh không vui?

Anh rơi lệ đáp: – Tôi đương nghĩ một việc riêng!

Cứ Đà hỏi tiếp: – Việc gì xin nói cho tôi rõ!

– Việc này khó giải quyết và cũng không dám nói.

Cứ Đà hỏi luôn: – Anh hãy nói ra, nếu tôi có thể giúp được thì tôi xin giúp.

Anh chàng này ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thực tình nói mục đích bắt thú lông vàng cho Cứ Đà nghe.

Cứ Đà hoan hỷ nói: – Việc không khó, da của tôi có thể đem biếu anh được! Anh nên biết rằng: Nếu cứ tính cái thân chết của tôi từ quá khứ tới nay, vô lượng vô số, không thể đếm được. Nhưng xét rằng những thân ấy chưa từng làm được việt gì hữu ích, hôm nay tôi được đem cái da vàng mạng sống của tôi để cứu người thì còn gì vui thú hơn. Vậy anh cứ việc lột lấy, tôi vui lòng nhưng chớ làm tuyệt mạng tôi vội, với sự cho anh đây tôi rất hoan hỷ, không hối hận chút nào!

Anh chàng đi săn nghe Cứ Đà nói trong lòng vẫn băn khoăn hối hận bất đắc dĩ phải rút dao lột da của Cừ Đà.

Đầu tiên anh đặt dao vào mũi, rạch mạnh, máu tươi chảy ra như rót rồi kéo qua đầu xuống tận đuôi, bắt tay vào kép xả ra hai bên.

Nhìn Cứ Đà vẫn thản nhiên không hề dãy dụa, rồi nguyện rằng: – Tôi thành thực hy sinh da tôi để cứu sống mọi người, nguyện đem công đức này, hướng về tất cả chúng sinh, qua thoát khỏi biển khổ sinh tử luân hồi về nơi Niết Bàn an lạc.

Lời của Cứ Đà phát nguyện vừa xong, ba ngàn thế giới tự nhiên chấn động sáu lần, các cung điện cõi Trời nghiêng ngửa, những Thiên Tử đều kinh ngạc! Ngó nhìn xem chuyện chi, thấy Bồ Tát lột da bố thí cứu sinh, họ bay xuống tận nơi, tung hoa cúng dàng ai nấy đều sa nước mắt.

Lột da xong, thân thể Cứ Đà đỏ như gấc chín, huyết chảy lênh láng, nhìn rất rùng rợn không dám ngó lâu, ruồi kiến bâu xúm xít đầy mình, rỉa thịt uống huyết. Đau quá! Định trở mình, nhưng sợ tổn thương loài ruồi kiến, đành phải nhẫn khổ không dám động đậy.

Những loài ruồi kiến ấy nhân được ăn thịt của Bồ Tát sau khi mệnh chết được sinh Thiên.

Người được da mang về dâng vua, nhà vua rất hài lòng, khen ngợi kẻ đã tử công phu vì ta; ban thưởng cho tước lộc ngôi cao, vàng bạc rất nhiều.

Nhà vua dùng nó để trải nằm, khi nằm cảm thấy tâm an vui khoái lạc.

Tới đây đức Phật nhắc lại cho tôi biết rằng:

– A Nan! Ông nên biết: Cứ Đà có phải ai đâu? Chính tiền thân của ta đấy, vua Phạm Ma Đạt nay là ông Đề Bà Đạt Đa, những ruồi kiến ăn thịt uống huyết của Cứ Đà thuở đó, khi ta mới thành Phật chuyển Pháp Luân đều được đắc đạo sinh lên các cõi Trời, ông Đề Bà Đạt Đa thời đó làm tổn thương tánh mạng ta cho đến ngày nay không có một chút thiện tâm gì đối với ta, suốt ngày chỉ muốn tìm cách để hại ta thôi!

Lúc đó tôi và tất cả đại chúng, nghe Phật nói thế, ai nấy cũng buồn và cảm động! Nhiều người thấy vậy gắng công cầu phép yếu, nên có người được quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm cho đến quả A La Hán, cũng có người gây nhân Bích Chi Phật, cũng có người phát tâm Vô Thượng Đạo; có người trụ ngôi bất thoái, ai nấy đều vui vẻ kính tin phụng hành tạ lễ mà lui.

 

 

Phẩm thứ mười sáu: VUA ĐẠI QUANG MINH

NGƯỜI có trí lanh lợi, thì sự nhận xét minh mẫn, gặp việc gì trở ngại cũng giải quyết mau lẹ, gặp một duyên nhỏ có thể làm đại nghiệp. Kẻ biến nhác ngoan độn, dẫu có gặp thắng duyên cũng không thể phát tâm cao cả.

Bởi thế con người luôn luôn phải có sự tiến hóa làm lòng, lập chí tạo tác những thiện duyên gây thành đại nguyện thì mai này sẽ kết quả rực rỡ tôn nghiêm.

Khi đó đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái Tử Kỳ Đà.

Bấy giờ có bốn bộ đệ tử vua quan dân chúng đương vây quanh đức Thế Tôn để cúng dàng. Trong đại hội có nhiều người nghĩ như vậy:

– Không rõ đức Thế Tôn bởi nhân duyên gì phát tâm vô thượng Bồ Đề lúc ban đầu? Tới nay thành Phật làm lợi ích cho muôn loài chúng sinh, vậy chúng ta cũng nên phát tâm cầu thành Phật đạo để nối chí của Ngài mà làm lợi ích chúng sinh.

Tôi (A Nan) biết họ nghĩ như vậy đi lấy áo mặc chỉnh tề tới trước Phật quỳ gối chắp tay bạch rằng:

Kính lạy đức Thế Tôn! Đại chúng đây đều muốn biết rõ xưa kia Ngài từ nhân duyên gì phát Bồ Đề tâm, kính xin chỉ giáo để cho tất cả mọi người đều được lợi ích!

Phật dạy rằng: – Này ông A Nan! Hay lắm! Hay lắm! Ông hỏi như vậy có rất nhiều sự lợi ích, ông hãy nghe cho kỹ và suy nghĩ cho rành, tôi sẽ vì ông mà nói.

Bấy giờ trong đại hội đều im lặng, tất cả núi sông gió nước chim bay thú chạy cũng đều chiêm ngưỡng, không một tiếng động, đại chúng, trời, rồng, quỉ thần đều dốc lòng trông Phật, ai nấy vừa sợ vừa ham nghe.

Phật dạy rằng: A Nan ông nên biết, thời quá khứ đã quá lâu xa kiếp, A Tăng Kỳ vô lượng vô biên không tính xuể, cũng Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua nước lớn tên là Đại Quang Minh, trí tuệ thông minh phúc đức cao dày, nhân tướng oai nghiêm thuần hậu, có chơi thân với ông vua nước láng giềng, hai ông giúp đỡ nhau từ tinh thần đến vật chất, nhất là có vật gì quý cũng tặng lẫn cho nhau.

Một hôm ông vua nước láng giềng đi săn được hai con voi còn nhỏ, mình trắng như pha lê rất là quý đẹp, nhà vua mừng thầm và tự nghĩ như vầy:

– Ta đem voi này tặng vua Quang Minh.

Đưa về trang sức cho voi rất đẹp rồi sai người dắt sang hiến vua Quang Minh.

Vua Quang Minh coi thấy con voi lạ cũng cho là một bảo vật đáng quý, nên trao cho người quản tượng tên là Tán Xà dặn rằng: – Trông coi cho cẩn thận, dạy bảo cho thuần thực, cho ăn uống ngon lành.

Quản tượng đưa về dạy bảo một thời gian được thuần thục, rồi đến tâu vua rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Hạ thần vâng mệnh nuôi voi đã lớn, sự điều voi của hạ thần nhất mực bảo sao nghe vậy, cúi xin Bệ Hạ cho voi ra thí trường để dân chúng coi sự điều khiển của hạ thần.

Nhà vua vui vẻ đáp rằng: – Hãy khoan ít ngày để ta truyền cho quan quân, dân chúng hay tin trước.

Sau khi được chiếu chỉ của nhà vua, từ thành thị cho đến thôn quê kéo nhau đi xem rất đông đảo, nhà vua cỡi voi ra thí tràng, trông rất oai nghiêm, đi sau có các quan văn võ. Con voi trai trẻ này, khí lực đương cường tráng, dục vọng nồng nàn, đi sắp tới thì trường nó nhìn thấy mấy chị voi cái đang ăn ngó sen bên mé hồ, tự nhiên lửa dâm dục bốc khởi, túm cẳng chạy thẳng đến mấy chị voi cái kia, voi cái hoảng chạy! Đuổi mãi, đuổi mãi! Cho đến rừng xanh cũng không thôi. Làm cho nhà vua áo rách mũ rơi, gai góc đâm xiên vào mình, máu huyết chảy đẫm áo, nhà vua tối mắt chẳng biết đông tây, sợ quá tự nghĩ rằng:

– Bây giờ làm cách nào để xuống được?

Quản tượng thưa: – Xin Bệ Hạ hãy níu lấy cành cây để sa xuống đất.

Nghe lời quản tượng, nhà vua níu lấy cành cây xuống đất được vô sự, nhưng sờ lên đầu thấy mất mũ áo, trên mình rách ngang rách dọc và đẫm máu, thân thể đau đớn! Đương lúc đau khổ lại không biết lối ra.

Quản tượng cũng níu lấy cành cây nhảy theo rồi đi tìm vua. Một lát thấy nhà vua đương ngồi dưới gốc cây coi vẻ âu sầu buồn bã, quản tượng quỳ xuống thưa:

– Cúi xin Bệ Hạ xá tội cho, và đừng buồn phiền nữa! Con voi này khi hạ cơn dâm dục nó sẽ nhớ cỏ ngon nước sạch thì lại trở về.

Nhà vua nói: – Thôi nhà ngươi còn nói chi nữa, từ nay ta sẽ không nhận ngươi và con voi ấy nữa.

Quản tượng không biết nói sao! Đành phải ngồi yên chờ vua nguôi cơn giận.

Khi đó các ông quan chạy theo sau, có ông nhặt được cái mũ, cái áo, cái hia, hoặc thấy máu me rải rắc từng giọt, đột nhiên thấy nhà vua cởi con voi khác trở về. Khi đó có các bà Hoàng Hậu, Hoàng Phi, Hoàng Tử, Công Chúa nhân dân đều lo xanh mặt, vì sợ nhà vua bị chết ai nấy đều rơi lệ như mưa.

Khi thấy nhà vua đã trở về, mọi người vui vẻ!

Qua thời gian ngắn con voi đã thỏa mãn lòng dâm, bị ăn cỏ hôi, uống nước bẩn nơi rừng xanh, lại trở về kinh thành.

Quản tượng thấy voi về, vội vào triều tâu vua rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Con voi hôm nay đã trở về, xin Bệ hạ ra coi.

– Thôi, từ nay ta không muốn nhìn thấy ngươi và con voi ấy nữa.

Quản tượng lại thưa: – Tâu Bệ Hạ, nếu Bệ Hạ không muốn thấy hạ thần và con voi ấy nữa, nhưng xin Bệ Hạ hãy xem cách điều phục voi của hạ thần một lần nữa.

Nhà vua nói: – Khanh đã nói thế ta cũng cho!

Quản tượng bái tạ ra về, sửa soạn nơi thí tràng và định ngày cáo thị cho dân chúng đến xem.

Tới ngày đó, vua quan ra thí tràng, nhân dân đến xem rất đông. Quản tượng dắt voi ra và đem theo bảy viên sắt lớn thầm nghĩ như vầy:

– Giờ đây ta bắt voi nuốt sắt, voi chết cũng hoài, vậy ta hãy tâu vua may ra ngài có hối tâm chăng.

– Tâu Bệ Hạ! Con voi trắng này, chỉ vua Chuyển Luân mới có, nó phạm chút lỗi nhỏ xin Bệ hạ tha thứ, không nên hủy bỏ.

Nhà vua nói: – Nếu ngươi không điều phục được nó, thì mời ta ra đây làm chi? Dầu ngươi có điều phục được, ta cũng không dùng nó và ngươi nữa.

Quản tượng thưa: Tâu Bệ Hạ! Bệ Hạ không dùng hạ thần thì thôi, nhưng rất tiếc không dùng voi.

Nhà vua giận nói: – Khanh đi ngay, bước ngay lập tức bây giờ!

Quản tượng đứng dậy vừa khóc vừa nói: – Bệ Hạ không có thân sơ, chỉ ưa những lời nói khéo, nói ngọt, nịnh hót!

Tất cả mọi người nghe đều sa đôi hàng lệ, và chăm chú nhìn voi, vì họ nhìn thấy bảy viên sắt đương nung đỏ tại lò, quản tượng sẽ bắt voi nuốt.

Quản tượng thị oai lớn tiếng nói:

– Voi mày nuốt viên sắt này đi, nếu không nuốt ta sẽ lấy móc sắt móc óc mày ra.

Voi thấyquản tượng nói, sợ hãi run rầy, quỳ hai gối xuống đất, chầu về nơi nhà vua ngự nước mắt chảy ròng! Có ý xin vua xá tội, nhưng nhà vua vẫn chưa nguôi cơn giận, lại càng bực tức thêm, rồi ngoảnh mặt đi. Quản tượng lớn tiếng nói:

– Mày không chịu nuốt à, còn chờ tao móc ư!

Voi liếc mắt nhìn xung quanh xem có ai can gián để cứu mình không! Nhưng không! Tự biết mình phải chết, vì không còn một thế lực gì nữa có thể trông cậy, bất đắc dĩ nằm ngửa há mồm.

Quản tượng bỏ bảy viên sắt nóng vào mồm bắt phải nuốt hết, nuốt xong nổ ruột chết liền.

Tất cả mọi người thấy thế cảm động thương voi. Ai nấy đều phải sa lệ.

Nhà vua cũng phải kinh sợ và ngạc nhiên, kêu Quản tượng lại hỏi:

– Quản tượng, khanh có tài điều phục voi như vậy, tại sao lúc ở rừng không ngăn được nó.

Lúc ấy ông Tịnh Cư Thiên biết vua Quang Minh đã phát tâm Bồ Đề, dùng thần lực khiến Quản tượng quỳ xuống thưa rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Kẻ hạ thần này chỉ có thể điều phục được thân nó chứ không thể điều phục được tâm của nó.

Nhà vua hỏi: – Vậy có người nào đều phục được cả thân lẫn tâm nó không!

Đáp: – Tâu Bệ Hạ, chỉ có Phật điều phục được cả thân lẫn tâm của nó.

Nhà vua hỏi tiếp: – Khanh nói Phật, thì lấy chủng tính gì sinh ra Phật?

Đáp: – Tâu Bệ Hạ! Có hai chủng tính sinh ra Phật: Một là trí tuệ, hai từ bi! Chăm làm sáu việc: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thuyền định, trí huệ cũng gọi là sáu Ba La Mật, công đức và trí tuệ của sáu việc đầy tròn nên gọi là Phật! Như vậy có thể điều phục được mình và tất cả chúng sinh.

Nhà vua nghe quản tượng tâu xong, có vẻ vui sướng! Đứng dậy vào hậu cung tắm rửa sạch sẽ, mặc áo đội mũ tề chỉnh, lên lầu cao một mình, đốt trầm hướng về bốn phương thề nguyện rằng:

– Từ đây tôi sẽ đối với tất cả chúng sinh, phải có một tâm “Đại Từ Đại Bi”, rồi đọc bài kệ khấn rằng:

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng về Phật đạo,

Sau này được thành Phật,

Tự điều phục tâm mình,

Và tất cả chúng sinh.

Nếu một chúng sinh nào.

Ở địa ngục A Tỳ.

Trải qua đến một kiếp.

Có thể làm lợi ích,

Và cứu khổ họ được,

Tôi sẽ vào ngục ấy,

Không bỏ tâm Bồ Đề.

Nhà vua thệ nguyện dứt lời, thì sáu phương chấn động, trời đất rung chuyển, trên hư không văng vẳng, có tiếng âm nhạc, các ông thiên tử đánh đàn ngợi khen rằng:

– Ngài phát nguyện cao cả ấy, chẳng bao lâu nữa được thành Phật, xin độ cho lũ chúng tôi trứơc ở pháp hội thanh tịnh này.

Tới đây Phật nhắc lại cho các vị Tỷ Khưu biết rằng:

– Tỷ Khưu các ông nên biết! Con voi trắng bị quản tượng bắt nuốt viên sắt nóng thuở đó nay là ông Nan Đà. Quản tượng nay là ông Xá Lợi Phất, vua Đại Quang Minh chính tiền thân của ta. Nhân lúc thấy quản tượng điều phục voi ta phát khởi tâm cầu đạo Phật bắt đầu.

Trong đại hội khi nghe Phật nói sự phát khởi tu đạo của Ngài xong, ai nấy vui mừng, rồi có người được chứng quả thứ tư, có người phát đại đạo tâm, mỗi người đều kính tin cúi đầu tạ lễ mà lui.

Vua Quang Minh gặp một tiểu duyên, mà giải quyết được đại sự, là do trí dũng mãnh tinh tiến. Còn như kẻ lười biếng, dầu có gặp được duyên lớn cũng chẳng thành sự nghiệp gì. Chúng ta phải nên mạnh dạn bớt bỏ lòng tham dục si mê, chuyển theo con đường sáng của đức Phật đã vạch ra, thì một ngày kia ta sẽ ngồi trên đài liên hoa, bay đi khắp thế giới nhiếp phục chúng sinh cũng như Ngài không khác, mục đích cứu họ ra khỏi vòng phiền não ô trọc, xấu xa, được trí tuệ thần thông cao sáng, qua thoát khỏi sinh, già, bịnh, chết.

 

 

 

 

Phẩm thứ mười bảy: ƯU BA TƯ NA

MUỐN thành Phật phải tôn trọng Phật, phải khao khát giáo lý của Ngài, phải đọc tụng thọ trì, phải diễn thuyết kinh pháp. Chính những người cư gia tụng kinh thuyết pháp, chư thiên quỷ thần còn ham nghe, phương chi người xuất gia cho đến người đi đường tụng kinh đọc kệ thường thường vẫn có chư thiên theo nghe.

Là Phật tử phải chăm niệm Phật, tụng kinh, trì chú, thuyết pháp thì đời vị lai sẽ được quả báo trang nghiêm rực rỡ.

Thuở đó đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ, tại Kỳ Hoàn tinh xá cùng với vô lượng vô biên. Các người lương thiện nghe thấy danh đức của Phật, họ đều hoan hỷ và tán dương. Trái lại những kẻ ác, nghe thấy người lương thiện thì sinh lòng thù ghét.

Người hiền thiện không bao giờ bới xấu người, mà chỉ đem những điều lành của người ra nói thôi, vì muốn điều lành ấy lan ra cho nhiều người được nghe, thấy kẻ làm ác biết sự hành động ấy của nghiệp kết sử thì thương họ và tha thứ cho họ không chấp nhặt sự ngu si của họ.

Như vậy những người cõi nhân, cõi thiên đã đầy thiện duyên gặp Phật xuất thế thì họ tán dương, và đem giáo pháp của Ngài tuyên truyền cho các nước.

Thuở đó có một nước nhỏ thuộc quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc, phần nhiều những người tà kiến vì không có giáo lý của Phật truyền bá, song thôn xóm kia có một người con gái tên là Ưu Ba Tư Na, hôm ấy đi sang nước Xá Vệ, nơi vua Ba Tư Nặc ở, công việc đã xong, ra về cùng người thân tín đạo Phật, trọ tại bên nhà người Ưu Bà Tắc. Sau được nghe họ nói công đức của Phật cô liền theo họ, đến rừng Kỳ Hoàn để yết kiến Phật, tới nơi thấy Phật tướng hảo đoan nghiêm, uy nghi lẫm liệt quang minh sáng lạn, tâm sinh vui vẻ khát ngưỡng, cúi đầu lễ sát đất rồi lui ngồi về một bên.

Lú đó đức Thế Tôn thuyết công đức của năm giới cho đại chúng nghe như sau:

1. – Không sát sinh, được quả báo sống lâu, không bệnh tật.

2. – Không trộm cướp, được quả báo giàu sang, không bị ngũ gia cướp đoạt.

3. – Không tà dâm, được quả báo nhân thiên kính trọng, thân người tốt đẹp.

4. – Không nói dối, được quả báo người đời kính trọng yêu mến, nói ai cũng tin theo.

5. – Không uống rượu, được quả báo thông minh.

Cô Ưu Ba Tư Na nghe xong tâm rất hoan hỷ! Cảm mến đức Phật, tới trước quỳ bạch rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Con không biết có phúc duyên gì hạnh ngộ, hôm nay tới đây, được chiêm ngưỡng Ngài và được nghe công đức của năm giới, con thành tâm cúi xin năm giới của Thế Tôn, xin Thế Tôn trao cho con, con nguyện suốt đời vâng giữ, dẫu cho chết mất thân mạng con quyết không hủy phạm. Năm giới đối với con, cũng như người đói giữ cơm, người khát giữ nước, như người bệnh giữ mạng, con giữ năm giới cũng thế.

Phật dạy: – Con biết tuân hành thọ trì năm giới là người có phước lành đã trồng nhiều kiếp, con hãy lắng lòng nghe cho kỹ và ghi vào tâm thức chớ quên, ta nói đến đâu con lãnh thọ đến đó.

Ưu Ba Tư Na bạch: – Dạ kính lạy đức Thế Tôn, con xin chú ý lãnh thọ!

Khi cô lãnh giới xong, lại bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Con ở nước xa xôi, giờ đây con phải trở về, cúi xin trao cho con một bài kinh để hằng ngày tụng đọc và thờ kính. Các đức Phật quá khứ, các đức Phật đời vị lai cũng một kinh pháp ấy.

Theo lời cầu nguyện của cô, Ngài trao cho cô một quyển kinh “Pháp Cú” và đặn rằng:

– Con mang kinh này về, chiều sớm ban hôm chăm chỉ thụ trì đọc tụng, sẽ được công đức vô lượng.

Cô cúi đầu lễ ba lễ, nhiễu ba vòng rồi trở ra về.

Từ khi được thấm nhuần giáo lý đạo Phật, cô coi đời như giấc chiêm bao, tất cả gia đình sự nghiệp chỉ là trò huyễn ảo gây ra trong thời gian vô định, nên cô chỉ chăm chú vào quyển kinh sớm hôm đọc tụng, suy nghĩ giáo pháp cao siêu của tam thế chư Phật. Một buổi nọ lúc giữa canh khuya cô ngồi tụng kinh trên lầu cao, văng vẳng nghe trên không gian có tiếng nói rằng:

– Hay lắm! Hay lắm! Chị tụng kinh hay lắm! Chúng em muốn tặng chị một chút bảo vật song không thích hợp với tư tưởng của chị, vậy xin giới thiệu một lời để dâng chị. Hiện nay Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên tới đây đương nghĩ trong rừng, sáng ngày mai chị mời hai Tôn giả cúng dàng thì được phúc vô lượng, khi Tôn giả chú nguyện thì hô đến tên của chúng tôi.

Ưu Ba Tư Na nghe xong ngửa mặt lên hỏi:

– Ông là ai? Xin cho tôi được biết quý danh.

Đáp: – Tôi là Quỷ Vương tức là Tỳ Sa Môn Thiên Vương nhân sang nam phương qua đây vì muốn nghe tụng kinh nên đứng lại!

Cô trả lời: – Người cõi Thiên không bao giờ nói lầm như vậy, ông là người trời, tôi là người thế, tuyệt không có nhân do, tại sao gọi tôi là chị.

Tỳ Sa Môn đáp: – Đức Phật là ngôi Pháp Vương cũng là cha lành cõi nhân cõi thiên, tôi là Ưu Bà Tắc, chị là Ưu Bà Di cùng chung một cha lành tu học một pháp vị, cho nên cũng có thể kêu là chị em được.

Cô vui vẻ hỏi tiếp: – Khi cúng dàng xưng tên của ông thì được lợi ích gì.

Thiên Vương đáp: – Tôi là Thiên Vương, tai nghe được rất xa, xưng tên tôi nghe thấy thì thêm thế lực của tôi và uy đức của tôi, khi đó tôi dùng thần lực sai khiến các quỷ thần ủng hộ người đó được phước lộc nhiều, và khiến cho họ thoát khỏi khổ nạn.

Thiên Vương nói xong rồi từ biệt. Ưu Ba Tư Na trong lòng vui vẻ! Và thầm nghĩ như vầy:

– Đức Phật trăm kiếp ngàn đời, chăm tu khổ hạnh cũng là vì ta, và tất cả chúng sinh. Hôm nay cũng do uy đức của Phật nên ông Thiên Vương đối với ta một cách thận trọng, lại còn xưng tên ta là chị, đức Phật là một đấng cha lành cho muôn loài.

Cô ngồi tư duy nhận xét đạo lý mãi đến gần sáng mới thiu thỉu ngủ; trời vừa tang tảng, các cô gái vào rừng kiếm củi trèo lên cây cao chặt những cành cây khô, xa xa nhìn thấy hai vị Thánh Tăng, một vị là Xá Lợi Phất, một vị là Mục Kiền Liên, với năm trăm thầy Tỷ Khưu đương ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây, cô gái ở nhớ rằng “độ nọ được đi hầu bà sang nước Xá Vệ, gặp hai vị Thánh Tăng này một lần bà chủ ta tôn kính lắm”.

Ngừng lấy củi cô lại tận nơi lễ bái thưa rằng:

– Kính thưa Tôn giả, chúng con là gia nhân của Ưu Ba Tư Na tới đây để bái mừng và đến thăm Tôn giả.

Tôn giả đáp: – Ưu Ba Tư Na có được vui vẻ không, có được an lạc giải thoát không?

– Thưa Tôn giả: – Ưu Ba Tư Na vẫn được an vui kể từ ngày được thọ giáo đức Thế Tôn, Ưu Ba Tư Na xin thỉnh hai Tôn giả tới nhà dùng bữa cơm hôm nay.

Tôn giả đáp: – Ngươi hãy về nói với Ưu Ba Tư Na. Hay lắm! Hay lắm! Ưu Ba Tư Na, là Ưu Bà Di khéo biết thời và khéo biết việc thích ứng, Phật vẫn thường khen năm pháp thí được phúc vô lượng.

Một là, bố⠴hí cho người ở nơi xa tới,

Hai bố, thí cho người đi xa.

Ba là, bố thí cho bệnh nhân.

Bốn là, bố thí thức ăn cho người đang bị đói.

Năm là, bố thí pháp cho người biết pháp.

Năm pháp bố thí này nếu ai thực hành làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.

Các cô nghe xong, vâng lời lễ tạ lui ra, về nhà gặp cô gái ở nhỏ bèn hỏi:

– Bà chủ ở đâu mày?

– Bà đang ở trên gác, đem qua bà ngủ không được, vừa mới ngủ đấy.

– Mày đi lên gọi bà dậy.

Đáp: – Em không dám!

– Không dám gọi thì để chị gọi.

– Tùy ý.

– Bà ơi! Mời bà dậy!

– Ngươi hỏi gì?

– Thưa bà, Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên đến rừng này con đã mời Ngài đến nhà dùng bữa cơm ngọ hôm nay.

Cô Ưu Ba Tư Na vui vẻ! Lấy bộ khoen vàng thưởng cho cô gái ở.

– Thưa bà, Tôn giả có những lời rất hay giáo hóa cho con.

– Con nhớ không? Nói cho ta nghe!

– Thưa bà, Tôn giả nói rằng: – Ưu Ba Tư Na là người Ưu Bà Di, khéo biết thời và khéo biết việc thích ứng. Phật vẫn thường khen năm pháp thí được phục vô lượng.

Thứ nhất là thí cho người ở xa tới.

Thứ hai là cho người đi đường xa.

Thứ ba là thí cho người có bệnh hoạn.

Thứ tư là bố thí thức ăn cho người đương bị đói.

Thứ năm là bố thí pháp cho người biết pháp.

Năm pháp thí này nếu ai thực hành làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.

Ưu Ba Tư Na nghe xong sung sướng quá, cũng như hoa sen khi gặp ánh nắng của mặt trời mà tung nở, trong lòng sáng tỏ tự nhiện phấn khởi tinh thần cũng như hoa sen kia đua nở vậy.

Ưu Ba Tư Na tháo chuỗi hột vàng trên cổ tặng thêm cho cô gái ở.

Cô gái ở vui mừng, đỡ lấy rồi nói:

– Mời bà dậy đi! Rửa tay, rửa mặt sửa soạn các món ăn mà cúng dàng, con sẽ đi mời các Ngài hầu bà.

– Ta vui lòng lắm! Nếu con đã vì ta làm việc này, hãy cứ làm đi, không phải nói nữa, ta cho tùy ý, và cũng không riêng gì cho ta, nếu cho làm việc tốt lành ấy, bất luận tại gia, hay xuất gia, nơi tụ lạc, thành ấp đều được sáng thịnh yên vui.

Nói xong đứng lên đi rửa tay bảo gia nhân và các người lân cận, người nấu cơm kẻ đốt lửa, gánh nước hái rau, kê bàn, trải chiếu, hái hoa phân phó các việc xong, còn mình lấy thuốc giã rây hòa luyện cẩn thận. Khi các thứ đã đầy đủ rồi sai người đi mời hai Tôn giả và các thầy Tỳ Khưu.

Được tin mời, hai Tôn giả và các thầy Tỳ Khưu mặc áo tề chỉnh đi phó trai. Các vị tới nhà thăng tòa ngồi yên tĩnh.

Ưu Ba Tư Na ra lễ bái mừng! Cầm thau món ăn sẻ vào các bát, sắc hương thơm ngát một lòng thành kính dâng lên.

Sự cúng dàng được phúc báo tùy theo lòng thành kính:

Làm thức ăn ngon, lại đẹp thì được nhan sắc đẹp, mùi ngon thơm tốt thì được phúc danh thơm đồn xa, món ăn đầy đủ, được phúc báo tuỳ ý muốn gì được nấy, thân người vạm vỡ khỏe mạnh.

Chúng Tăng độ xong, Ngài Tôn giả Xá Lợi Phất làm phép chú nguyện.

Ưu Ba Tư Na thưa: – Kính xin Tôn giả hô đến tên ông Tỳ Sa Môn Thiên Vương.

Ngài chú nguyện, xong, hỏi:

– Con đối với Tỳ Sa Môn Thiên Vương có nhân duyên gì mà hô tên ông ấy?

– Kính bạch Tôn giả! Thực là một việc ly kỳ quá! Tối hôm qua con đương tụng kinh, ông Thiên Vương ấy đứng ở trên hư không, khen con và gọi con là chị. Lúc ấy con hỏi ông là ai nghe tiếng, mà không thấy người, ông ấy nói: – Tôi là Quỷ Vương Tỳ Sa Môn Thiên Vương thấy người tụng kinh tôi đứng đây nghe, tôi muốn lấy trân bảo cõi Trời tặng nhưng không phải một thứ mà chị ưa muốn, nên xin tặng một lời đó thôi! – Con lại hỏi, ông muốn bảo gì?

Ông ta nói:

– Sáng mai Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên, đến rừng này, chị nên sửa trai cúng dàng, khi cúng thì hô đến tên tôi.

Con lại hỏi: – Xưng tên ông thì được lợi ích gì?

Ông ta nói:

– Tai tôi nghe được rất xa, nếu xưng tên tôi thì thêm thế lực của tôi, và uy đức của họ hàng tôi, tôi sẽ dùng thần lực sai quỷ thần ủng hộ cho người đó, thoát khỏi những khổ nạn, bởi nhân duyên ấy nên xưng tên.

Tôn giả nói: – Đấy, cũng là một việc lạ, con ở đạo người, kẻ kia ở đạo trời, họ đối với con có lòng kính trọng lại còn nhận là chị em.

– Kính thưa Tôn giả! Còn một việc lạ nữa: Trong nhà con thường có thần nhân đi lại viếng thăm một cách thân mật và cũng như một bạn gái vậy, khi con bố thí, thì vị thần bảo con rằng: Vị này là A La Hán, vị này là Tu Đà Hoàn, vị này là Tư Đà Hàm, kẻ này là phàm phu, người này là trì giới, kẻ này phá giới, người này trí tuệ, kẻ này ngu si. Con tuy nghe thấy nhưng ý của con không phân biệt phá giới hay trì giới, trí tuệ hay ngu si, bất luận vị nào con đều coi như một vị La Hán.

Tôn giả nói: – Cũng hay lắm, ngay đấy con có tâm bình đẳng không phân biệt.

– Bạch Tôn giả! Con lại có một việc lạ nhất: Con là phận nữ nhi tại gia mà tiêu diệt được hai người thân kiến, đắc quả Tu Đà Hoàn!

Tôn giả nói: – Đấy con có phước lớn làm thân gái mà chứng được quả Tu Đà Hoàn!

– Bạch Tôn giả: – Con lại có một việc kỳ nữa, con sinh hạ được bốn đứa con đều ác kiến, chồng con cũng là tà ác quá đỗi, đối với Phật Pháp Tăng chẳng biết tin kính, con cúng dàng Tam Bảo, hoặc cho kẻ bần cùng, lại sinh lòng giận tức tiếc của, và nói rằng: – Ta làm khổ sở mới có tiền, lại đem làm việc vô ích, tuy thế, nhưng đạo tâm bố thí cúng dàng tu thiện của con, không hề thay đổi và cũng không buồn hận gì!

Tôn giả nói: – Làm thân đàn bà suốt đời không bao giờ được tự tại, khi còn bé nhỏ ở với cha mẹ, thì cha mẹ cấm đoán, khi có chồng thì chồng đàn áp dưới ách di nô, khi già thì con cái ngăn đón, riêng đối với phúc lực của con thì không bị chồng cấm đoán, tùy ý tu thiện, này Ưu Ba Tư Na, tối hôm nay đức Thế Tôn sang rừng Tỳ Nữu Can Đặc, con lại viếng thăm Ngài.

Nói xong hai Tôn giả và các thầy Tỳ Khưu ra về. Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ:

– Tôn giả mách bảo thật là một việc rất hay, ta sắm sửa vật thực để cúng dàng.

Ngày mai Ưu Ba Tư Na gọi các người thân tín đi viếng thăm Phật, tới nơi rừng Tỳ Nữu Can Đặc, thấy đức Thế Tôn dung nhan tươi sáng như vừng nhật nguyệt, uy phong lẫm liệt. Cô và mọi người thụp lạy trước Ngài, dâng hoa lên cúng rồi lui ngồi về một bên.

Hôm đó đức Thế Tôn thuyết pháp nói về công đức bố thí trì giới, sinh thiên, đoạn dục và Niết Bàn, nghe thuyết pháp xong nàng bạch Phật rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Thôn xóm con thuần những người tà kiến, không biết Phật Pháp Tăng, và không ưa việc bố thí. Cho nên những vị Sa Môn, Bà La Môn, có vào làng không ai biết cúng dàng, nên các vị chỉ vào nhà con. Kính xin Ngài có thời gian nào đến ấp làng con giáo hóa cho mọi người biết tín ngôi Tam Bảo, hơn nữa chúng con lại được cúng dàng.

Bạch xong lễ tạ lui ra, lần lượt đi thăm các vị Tỳ Khưu, cuối cùng thấy một vị mang bệnh nằm trong hang cỏ, liền hỏi:

– Đại Đức bệnh hoạn thế nào? Đau lâu mau thế nào? Phải dùng những thức gì điều trị, xin cho con được rõ.

Đáp: – Tới đây thủy thổ bất hòa, tôi không hợp nên phải thụ bệnh, giờ đây nếu được thứ thịt tươi ăn thì khỏi.

– Bạch Đại Đức, ngày mai con xin dâng Đại Đức dùng, việc ấy không khó!

– Hay lắm! Quý hóa lắm!

Ưu Ba Tư Na lễ sát dưới chân xin phép ra về, đi đường thầm nghĩ rằng:

– Ta có phước đức lớn, hôm nay được yết kiến Phật và các Tôn giả.

Ngày mai sai người ở đi chợ mua thịt, không mua được trở về thưa rằng:

– Thưa bà, hôm nay ngày rằm chợ không bán thịt, và hôm nay ngày quốc cấm, nếu ai sát sinh bán thịt sẽ bị trọng phạt!

– Thế à! Mày cầm một ngàn đi mua, chỉ lấy số thịt giá một trăm đồng thôi, hoặc có kẻ nào ham lợi thì họ bán!

Kẻ đó mang tiền đi chợ lần nữa, nhưng vì luật nhà vua quá nặng nên không ai giết lợn bán, vế thưa rằng:

– Thưa bà, hôm nay ngày quốc cấm không ai dám giết thịt bán.

– Mày cầm tiền vàng đi các nhà đồ tể mua một giá rất đắt!

Vâng lời bà chủ đi mua, nhưng các nhà sát sinh cũng không ai dám mổ heo bán, về thưa cùng bà chủ rằng:

– Thưa bà con đã hết lời năn nỉ họ, nhưng luật nước quá nặng, không ai dám giết heo bán, xin bà liệu cách khác.

– Thôi để ta liệu!

Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ rằng:

– Ta đã hứa dâng Ngài dùng mà không có thì Ngài mong ta, hoặc vì thế mà Ngài chết thì lỗi tại ta. Song lại nhớ tới vị Bồ Tát ngày xưa vì một con chim bồ câu, còn cắt thịt để cứu mạng sống của nó, phương chi đây là một vị Tỳ Khưu ta không nên quá yêu thân ta, ta nên cắt thịt của ta để cứu lấy bịnh của Ngài. Nghĩ xong đi tắm rửa sạch sẽ gọi một người thân tín nhất vào phòng nói rằng:

Ngươi làm ơn lấy dao này cắt thịt bên vế đừi cho ta một cân.

Người đó cầm dao cắt, trong lúc xẻo thịt, mặc lòng đau đớn khổ não; nhưng cứ bấm gan chịu, đứa ở gái lấy băng buộc chặt lấy chỗ đau. Sau mang ra nhào các thứ dược thảo nấu chín, bỏ vào cà mèn, đưa đến rừng dâng lên vị Tỳ Khưu có bệnh.

Tỳ Khưu ăn thịt xong, thân thể an lạc các bệnh đều khỏi, lành mạnh như xưa.

Đoạn này chồng của Ưu Ba Tư Na về, không thấy vợ liền hỏi gia nhân rằng:

– Chúng bây đâu!

– Dạ! Ông chủ hỏi gì ạ.

– Chúng bây có biết Ưu Ba Tư Na đi đâu không?

– Dạ! Thưa ông, bà đương nghỉ trong phòng!

Vào phòng thấy vợ nhan sắc biến đổi, có vẻ đau đớn, hỏi:

– Em đau à? Coi vẻ ủ rũ đấy!

Bước ra sai người gọi thầy lang về chẩn mạch.

Thầy lang đến

– Thưa bác nhà tôi bị đau, nhờ bác chẩn mạch cho thuốc.

– Vâng! Chị ấy nằm đâu?

– Trong nhà, mời bác vào!

– Thế nào, bác đau sao?

– Bệnh tôi lúc nào cũng đau, hiện đang đau lắm không ngớt đau chút nào.

Thầy lang chẩn mạch không biết bịnh gì, yên lặng lui ra.

Thầy lang nói: – Bác ạ, tôi không rõ bác gái bệnh gì!

Anh chàng hỏi:

– Bệnh em làm sao nói cho tôi biết?

Thầy lang có giỏi cũng không biết được bệnh tôi! Thôi anh không phải lo, ít ngày em sẽ khỏi bệnh.

Anh chàng lui ra, gọi gia nhân hỏi:

– Lũ bây có biết Ưu Ba Tư Na bệnh gì không?

– Thưa ông bọn tôi không biết, ông hỏi người hầu cận bà thì biết.

Anh chàng gọi đứa ở gái ra chỗ vắng hỏi:

– Mi có biết Ưu Ba Tư Na bệnh gì không, nói thực cho ta biết.

– Thưa ông! Bà cắt thịt đừi ra, nấu cúng dàng cho một vị Tỳ Khưu ăn, nên bà bị đau đó!

Anh chàng nghe nói, hầm hầm nổi giận ra ngoài đường lớn tiếng nói:

– Làm Sa Môn Thích Tử mà ăn thịt người, có khác gì Đồ Bác Túc Vương ngày xưa không?

Chàng lê la nói mãi, khiến cho những người tín đồ của Phật vừa tủi thẹn vừa tức bực! Anh chàng dám mạ Phật, Pháp, Tăng, rồi một số đông đến chỗ Phật lễ xong lui ngồi một bên.

Phật hỏi: – Các ngươi tại sao buồn thế.

– Kính lạy đức Thế Tôn! Có một chành dòng Phạm Chí ra chỗ đông người lớn tiếng phỉ báng Phật, Pháp, Tăng rằng: – Trước đây Đồ Bác Túc Vương ăn thịt người, ngày nay thầy Sa Môn đệ tử của Phật cũng ăn thịt người, cúi xin đức Thế Tôn ra lịnh cho các vị, từ nay không được ăn thịt nữa.

Đức Phật đánh chuông họp chúng rồi gọi vị Tỷ Khưu có bệnh lên hỏi.

Vị Tỷ Khưu lên lễ Phật xong lui ngồi về một bên.

Phật hỏi:

– Quý tử bệnh gì?

– Kính lạy đức Thế Tôn, vài hôm trước con mắc chứng bệnh sốt, nhưng hôm nay đã bớt nhiều.

Phật hỏi:

– Hôm nay ngươi ăn món gì?

– Bạch lạy Thế Tôn! Con ăn thịt và uống nước thịt.

– Ăn thịt tươi hay thịt khô?

– Dạ con ăn thịt tươi!

– Thịt tươi tức là thịt không để cách đêm.

Phật nói: – Nghe đây! Bất luận tươi hay kho trước khi ăn ngươi có hỏi tịnh hay bất tịnh không?

– Dạ! Lạy đức Thế Tôn, bệnh con đau quá, được thịt thì ăn ngay chứ không kịp hỏi.

Phật nói: – Tỷ Khưu tại sao lại dùng món ăn bất tịnh? Phép của Tỷ Khưu những món ăn của thí chủ, trước khi ta ăn phải hỏi, đây là thịt gì? Nếu thí chủ nói: Đây là tịnh nhục, thì phải xem xét có thể tin được mới ăn, nếu không tin được thì không ăn.

Từ đấy Phật cấm các vị Tỷ Khưu không được ăn thịt bất tịnh như sau:

1. Nếu Tỷ Khưu nhìn thấy họ giết con vật ấy, thì không được ăn.

2. Nghe thấy tiếng nó kêu khi bị người giết, cũng không được ăn.

3. Nghi ngờ không được ăn.

Như thế là phân biệt nên ăn hay không, khi đó Ưu Ba Tư Na được tin Phật cấm các vị Tỷ Khưu không được ăn thịt, chính bởi tại mình, trong lòng phát sinh đau khổ, buồn phiền, bởi vì mình mà các vị sư không được ăn thịt liền kêu chồng đến nói rằng:

– Anh mạ Phật, Pháp, Tăng có tội lớn, ngày mai anh mời Phật và chư Sư về nhà cúng dàng và sám hối, nếu anh nghe lời tôi thì đi ngay, bằng không thì tôi sẽ tự sát thân tôi trước mặt anh cho biết.

Anh chàng vốn không có lòng kính tin Phật, sau cũng vì sợ vợ tự tử, đáp rằng:

– Vâng! Tôi xin tuân lời của cô, xin cô đừng nói nữa, tôi sẽ đi mời Phật ngay bây giờ!

Nói xong anh chàng đi ngay, tới thưa rằng:

– Thưa Ngài Cồ Đàm Sa Môn, ngày mai chúng tôi xin mời Ngài, và mấy vị đệ tử đến nhà dùng cơm.

Đức Phật thấy anh lỗ mãng vô lễ, Ngài từ bi lẳng lặng tỏ ý nhận lời.

Anh chàng cũng biết Ngài nhận lời của mình, vái tạ ra về, khi tới nhà nói với vợ rằng:

– Ông Cô Đàm đã nhận lời mời của tôi rồi đấy!

Ưu BaTư Na sai gia nhân sửa soạn các món ăn, hương hoa, ghế ngồi trang trí trong nhà rất tôn nghiêm, sớm mai sai người vào rừng mời Phật.

Khi Phật và các vị Tỷ Khưu đến nhà ngồi an tĩnh, không thấy Ưu Ba Tư Na Ngài hỏi:

– Ưu Ba Tư Na đâu? Không thấy ra chào?

Anh chàng đáp:

– Dạ! Đương bị đau bệnh nằm trong giường.

Nói xong chạy vào phòng gọi:

– Thầy cô gọi cô đó!

– Anh ra bạch rằng: – Ưu Ba Tư Na lễ dưới chân Phật và các vị Thánh Tăng, vì có bệnh đau quá không thể ra được, cúi xin xá tội. Nhưng anh ăn nói cho có lễ độ mới được!

Anh chàng ra thưa rằng:

– Dạ! Thưa Ngài, Ưu Ba Tư Na lễ dưới chân Phật, Pháp, Tăng, vì mang bệnh đau quá không thể ra chào được.

Phật kêu: – A Nan

– Dạ!

Ông vào phòng gọi Ưu Ba Tư Na ra ta hỏi.

– Dạ!

Tôi vào tới phòng, Ưu Ba Tư Na cố gượng ngồi dậy chắp tay nói:

– Kính bạch Đại Đức, con xin lễ dước chân Phật, Pháp, Tăng, rất muốn ra yết kiến đức Thế Tôn, như kẻ đói được cơm, kẻ rét được áo mặc, như khi nóng nực được mát mẻ, như kẻ lạc đường muốn về lối cũ. Con muốn ra lễ kính Phật cũng như thế, tâm con khao khát, nhưng thân con hiện giờ đau lắm không ra được! Kính xin Đại Đức ra bạch Phật hộ con.

Tôi đi ra trình Phật những lời của Ưu Ba Tư Na vừa nói, thì Phật bảo tôi rằng:

– Ông cho người khiêng Ưu Ba Tư Na ra đây!

– Dạ! Con xin tuân lệnh.

Tôi bảo gia nhân khiêng đến trước Phật.

Khi đó đức Như Lai phóng quang minh, ánh sáng chiếu vào chúng sinh nào thì chúng sinh ấy được phần lợi ích, kẻ điên rồ được an chính, kẻ loạn tâm được bình tĩnh, kẻ bệnh hoạn được hết bệnh hoạn. Ưu Ba Tư Na nhờ oai thần của Phật ánh hào quang soi tỏ cõi lòng, ngay giờ phút đó được lành mạnh hết đau.

Ưu Ba Tư Na kính sợ vui mừng giao cảm, đứng lên thụp lễ dưới chân đức Thế Tôn, lui ra cầm một cái bình bằng vàng lấy nước rửa chân Phật, đặt các món ăn, sắc đẹp mầu thơm ngào ngạt dâng cúng đức Thế Tôn và các hàng Thánh Tăng. Dùng cơm xong Phật thuyết về luận “Bố thí”, luật “Trì Giới”, tu “Thập Thiện”, quả báo sinh thiên, sinh tử là tội lỗi của tham dục, muốn xuất ly sinh tử phải tu “Tịch Diệt”, diệt khổ được an vui, nói về Mười Hai Nhân Duyên luân duyển không dứt.

Ưu Ba Tư Na nghe Phật thuyết pháp xong thì đoạn tuyệt được lòng tham dục, giận tức, si mê, chứng quả “A Na Hàm”. Người chồng cô tự bỏ được tà kiến, biết tôn kính ngôi Tam Bảo, và xin thụ giới Ưu Bà Tắc, tất cả họ hàng quyến thuộc đều xin thụ Tam Quy Ngũ Giới.

Bốn chúng đệ tử Phật, khi đó có người đắc quả Tu Đà Hoàn, có người đắc quả Tư Đà Hàm, có người đắc quả A La Hán, mọi người ai nấy đều vui vẻ khát ngưỡng Pháp Bảo Vô Lượng.

Ngoài ra còn có nhiều người nghĩ như vầy:

– Kẻ nữ nhân dám cả gan cắt thịt cúng dàng Sa Môn, thực là một chuyện chưa từng thấy bao giờ! Chúng ta nếu bỏ quê hương nhà cửa, cũng là một việc khó.

Sau đó những người dân bản xứ, có nhiều người bỏ nhà cửa họ hàng đi xuất gia, chăm chỉ tư hành đoạn trừ kết lậu, thành ngôi a La Hán từ đó nơi thôn dã ấy nhiều người biết tin theo đạo Phật, giáo pháp được lan rộng khắp nơi.

Cũng bởi thế, những người có trí tuệ sáng suốg cho đến kẻ nữ nhân cũng chăm tụng đọc kinh Phật, tinh siêng không biết mỏi mệt, nên cũng nhiều người đắc quả. Kẻ trượng phu lòng chăm tu đạo, há lại không thành công sao?

Coi đây, các thiện nam tử, thiện nữ nhân cần phải tu đạo nghiệp, sợ sinh tử khiến cho kết sử nhẹ bớt, có ngày sẽ lìa được sinh tử, tuy đời mạt pháp chưa được độ song công đức ấy cũng được sinh nhân thiên, hưởng phúc vô cùng tận.

Ngài Di Lặc Thế Tôn cách năm mươi sáu ức bảy ngàn muôn năm sẽ thành Phật thuyết pháp độ sinh, bấy giờ tùy lòng cầu nguyện của mình muốn chứng đạo quả nào sẽ được đạo quả ấy.

 

 

 

 

Phẩm thứ mười tám: XUẤT GIA CÔNG ĐỨC

Chính tôi được nghe Một thuở nọ đức Phật ở nước Ma Già Đà, tại thành Vương Xá trong vườn Trúc Ca Lan Đà.

Buổi thuyết pháp này đức Phật nói về công đức xuất gia. Ngài nói rằng:

– Nếu người nào cho con trai con gái, đứa ở trai đứa ở gái, hoặc người dân hay chính mình đi xuất gia, công đức ấy thực là vô biên nếu đem tỷ với phước báu của bố thí, dầu có được hưởng phúc đến mười đời trên cõi nhân, cõi thiên cũng không bằng công đức cho một người đi xuất gia hay tự mình đi xuất gia.

Tại sao thế? Vì phúc báo bố thí chỉ có hạn định, còn phúc xuất gia không có hạn định, nên không thể bì kịp, hoặc phúc báu trì giới, hoặc phúc của các vị thần tiên có đủ năm phép thần thông, cho đến phúc báu cùng tột của cõi trời Phạm Thiên, đem ví với phước báu xuất gia trong Phật – Pháp cũng không sánh nổi, hơn nữa người xuất gia còn được đạo Niết bàn, nên phước ấy không thể nói bàn cho xiết được.

Giả như có người nào, xây tháp bằng Thất Bảo, cao tới cõi trời Đao Lợi, công đức ấy cũng chưa bằng cho người đi xuất gia, vì tháp Thất Bảo kia có ngày bị kẻ gian ác ngu si phá hủy.

Muốn cầu một pháp lành, ngoài Phật Pháp ra không còn pháp gì có thể cao hơn. Cũng tỷ như một trăm người, bị lòa đôi mắt, gặp thầy thuốc chữa lành sáng tỏ, hoặc trăm người bị tội móc mắt gặp được người có sức hùng mạnh cứu thoát, phước cứu hai người nói trên, tuy lớn nhưng không bằng cho một người đi xuất gia.

Đức xuất gia cao cả, phước cứu hai người lành đôi mắt chỉ được một đời, rồi đây nó cũng bị hoại.

Cho người đi xuất gia, hay tự mình đi xuất gia, sau khi được thành tựu quả Bồ Đề họ sẽ đem giáo lý đạo Phật giáo hóa chúng sinh, được con mắt trí tuệ muôn ngàn kiếp bất diệt, vì con mắt trí tuệ không bao giờ bị hoại.

Những người được hưởng phúc trong cõi nhân cõi thiên, chỉ phóng túng say mê về dục vọng, họ không có con mắt trí tuệ nhận xét: Nó là giả dối, không sự thật, nó là hố lửa sâu, thui đốt con người ngu si tham vọng, nó làm hầm cạm bẫy đưa dắt người vào nơi ác thú luân hồi.

Pháp xuất gia tiêu diệt họ hàng nhà ma, làm lợi ích cho dòng xuất thế của Phật Pháp, nuôi thiện pháp, trừ tội cấu, thêm phúc lành, được thành Phật.

Đức Phật nói: – Công đức xuất gia cao như núi Tu Di, sâu như biển cả, rộng như hư không.

Những ai làm cản trở người phát tâm đi xuất gia, kẻ đó sẻ bị tội đọa vào địa ngục hắc ám, và không có mắt, cũng ví như tất cả các nước sông lớn sông nhỏ, ngòi, lạch, suối, ao, đều chảy về biển, tội báo của kẻ đó cũng thế, những tội ác chất ở thân kẻ đó cũng ví như núi Tu Di bị thời tai kiếp đốt cháy tiêu tan, kẻ đó vào địa ngục hỏa thiêu vô thời hạn, cũng như vị thuốc độc Ca Lưu Lâu Hê Ni đem tỉ với vị thạch, một sự báo ứng của thiện ác cũng thế.

Cho người đi xuất gia, hay chính mình đi xuất gia, công đức như trời xanh, như biển thẳm. Người xuất gia lấy kinh điển làm nước, để rửa những cấu nhơ của nghiệp kết sử, trừ bỏ được khổ, sinh, già, bệnh, chết, và làm cái nhân của đạo Niết bàn, lấy giới làm chân bước lên đất thanh tịnh trang nghiêm, lấy luật làm mắt để coi xem những thiện ác của thế gian, đi trên đường Bát Chánh tới thành Niết Bàn, vì những lợi ích ấy nên cho người đi xuất gia, hay tự mình đi xuất gia.

Thời đó có một Trưởng giả tên là Thi Lợi Bí Đề (Tàu dịch là Phúc Tăng) tuổi đã một trăm, nghe biết người ta thuật lại công đức xuất gia cao cả như vậy, ông thầm nghĩ như vầy:

– Ta nay tuổi đã già yếu đối với việc xuất gia tu đạo trong Phật Pháp, phúc đức lớn lao, sao lại không xuất gia chả uổng lắm ư?

Nghĩ xong gọi vợ con lên bảo:

– Bà và các con ở nhà làm ăn, tôi muốn đi xuất gia tu đạo, có vui lòng không?

Ông lão này vợ con đều ghét bỏ, vì ông chỉ ăn hại, không làm được việc gì, lại hay bẳn gắt, nên họ đều mừng và trả lời:

– Dạ! Phải, nguyện ông đi cho rồi, đi sớm được giờ phút nào, là hay cho lũ tôi giờ phút đó!

Ông lên đường đi hỏi thăm đến vườn Trúc nơi đức Thế Tôn ngự. Tới nơi không may ngày đó Phật đi vắng, ông vào hỏi các vị Tỷ Khưu rằng:

– Bạch Đại Đức, Phật Ngài ngự phòng nào, xin chỉ giùm tôi?

– Đức Thế Tôn, Ngài đi giáo hóa nơi khác không có ở nhà!

– Bạch Đại Đức, Phật đi vắng thì vị thượng túc của Ngài là ai?

Các vị đều chỉ tay đến chỗ ngài Xá Lợi Phất, ông lão lọm khọm chống gậy tới, bỏ gậy xuống đất chắp tay làm lễ thưa rằng:

– Bạch lạy Đại Đức Thế Tôn Giả con một lòng thành kính tới đây xin xuất gia học đạo, cúi xin Ngài từ bi thâu nạp, được đội ơn vạn bội!

Ngài Xá Lợi Phất đưa mắt nhìn xong tự nghĩ rằng:

Người này già yếu, học hỏi, tọa thiền, trợ việc chúng, trong ba việc, không làm được một, có tu cũng vô ích.

Nghĩ rồi đáp rằng: – Ông già yếu lắm rồi, không thể xuất gia được.

Sau ông đi thưa với Ngài Ca Diếp, Ngài Ưu Ba Ly, Ngài A Nâu Lâu Đà, cuối cùng đến năm trăm vị La Hán, các vị đều hỏi:

– Ông đã thưa với vị nào chưa?

Ông đều thưa với các vị rằng:

– Trước hết con hướng đức Thế Tôn, nhưng Ngài không có ở Tịnh xá, con có thưa với Ngài Tôn Giả Xá Lợi Phất, Ngài nói rằng ông già yếu lắm rồi, không thể xuất gia được. Thì các vị đều trả lời rằng:

– Ngài Xá Lợi Phất là một vị trí tuệ thứ nhất, còn không dám thâu nạp vào hàng xuất gia, ta cũng thế, cũng tỷ như một ông thầy thuốc giỏi, biết bệnh nhân không thể chữa được, ngoài ra các thầy lang khác cũng phải khoanh tay, còn chữa sao nổi, độ sao được!

Có lẻ ông lão này tử tướng đã xuất hiện, nên Ngài Xá Lợi Phất không độ, cho đế⮠các vị Tỷ Khưu cũng từ chối.

Ông Thi Lợi Bí Đề xin xuất gia không được, trở ra ngoài ngõ Trúc viên than khóc một mình rồi lẩm bẩm nói:

– Ta từ thuở sinh làm người đến nay, chưa làm một lỗi gì lớn, thế mà tại sao chỉ riêng một mình ta không được xuất gia? Ông Ưu Ba Ly là người bần tiện, ông Ni Đề là người hốt phân thuê, ông Ương Quật Ma La là kẻ giết người rất nhiều, ông Đà Tắc Ky là kẻ ác nhân làm giặc, mà còn được xuất gia? Vậy mình có tội gì không được xuất gia?

Đương phàn nàn một mình, hốt nhiên thấy Phật đứng ở trước mặt, ông nhìn thấy quang minh chói sáng, tướng mạo đoan nghiêm, tựa như vua Thiên Đế Thích trên cung trời Đao Lợi.

Phật hỏi: – Thi Lợi Bí Đề làm sao khóc?

Ông vui mừng quá! Vội vàng cúi đầu lễ dưới chân khóc mà bạch rằng:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Có những chúng sinh: Kẻ giết người, kẻ làm giặc, kẻ nói dối, kẻ phỉ báng, kẻ hạ tiện, những kẻ đó đều xuất gia, con xét thân con từ thuở sinh làm người đến nay đã một trăm tuổi chưa từng làm điều gì ác, mà các vị Tỷ Khưu không thâu nhập cho con được xuất gia! Bạch lạy đức Thế Tôn! Ở nhà thì vợ con ghét bỏ, đến đây nương bóng từ bi Ngài không có ở Tịnh Xá, các vị Tỷ Khưu cho con già quá không nhận, bây giờ về cũng khốn nên con muốn bỏ mạng ở nơi đây.

Phật hỏi: – Ai nói người này được xuất gia kẻ kia già không được xuất gia?

– Kính lạy đức Thế Tôn, Ngài Thượng Túc Xá Lợi Phất!

Ngài an ủi ông rằng:

– Thôi chớ buồn nữa, ta sẽ cho xuất gia tu học, ông Xá Lợi Phất không phải là một người đã chăm làm những hạnh khổ trong ba đại kiếp A Tăng Kỳ và đã tu phúc trong trăm kiếp, ông không phải đời ấy đời khác đã chăm làm những việc rất khó, như: Chặt đầu móc mắt, chẻ xương lấy tủy, óc, cắt thịt chọc tiết, lột da, chẻ xương chân tay, cắt cái mũi bố thí; ông không phải là người đã đem mình cứu hổ đói nhảy xuống hố lửa sâu, đóng trên mình một ngàn cái đinh để cầu nghe đạo, khoét mình ra một ngàn lỗ để đốt đèn; ông không phải là người đã đem quốc, thành thê, tử, nô tỳ, voi, ngựa, thất bảo ra bố thí, ông không phải là người kiếp sơ A Tăng Kỳ cúng dàng tám vạn tám ngàn đức Phật, kiếp hậu A Tăng Kỳ cúng dàng mười vạn ức đức Phật, xuất gia giữ giới đầy đủ đối với pháp tự tại ông Xá Lợi Phất không có thể nói: Người này được xuất gia, hay kẻ kia không được xuất gia, Ta một người đối với pháp tự tại cỡi xe Lục Độ, mặc áo giáp Nhẫn Nhục, ngồi tòa Kim Cương, dưới cội cây Bồ Đề hàng phục Ma Vương thành ngôi Vô Thượng Pháp Vương, không ai bằng ta, người an tâm theo ta về Tinh Xá, ta sẽ cho xuất gia.

Đức Thế Tôn an ủi xong làm cho nỗi phiền não của ông được tiêu tan, trong lòng vui vẻ sạch lâng! Theo sau Phật về.

Khi về tới Tinh Xá đức Phật, gọi ông đại Mục Kiền Liên giao cho phải chịu trách nghiệm dạy bảo và thế phát làm lễ xuất gia.

Vì Đức Phật, Ngài có con mắt trí tuệ nhận thấy những chúng sinh có duyên với người nào thì người ấy mới độ được. Tỷ như người có duyên với Phật thì Phật độ cho họ, người khác không độ được, người có duyên với người khác thì người khác độ, Phật không độ được, người có duyên với Ngài Xá Lợi Phất thì Ngài Xá Lợi Phát độ cho họ, chứ Ngài Mục Liên, Ngài Ca Diếp, Ngài A Na Luật, Ngài Kim Tỳ La và tất cả vị Thanh Văn sao độ cho họ được, vì họ không có duyên với các vị. Nói tóm lại những người có duyên với mình, thì mình độ, không có duyên thì không thể độ được.

Ngài Mục Liên vâng lời Phật lãnh trách nhiệm, rồi thầm nghĩ như vậy:

– Ông lão này niên cao già yếu, tụng kinh, tọa thiền, trợ việc chúng ba việc không được một. Song Phật đã giao cho, ta lẽ nào dám trái mạng.

Sau ít bữa thế phát đăng đàn thọ giới cụ túc.

Tuy thế nhưng ông lão đã có trồng nhân lành với Phật Pháp từ đời quá khứ, đã từng tu tập các công đức, các pháp môn của Phật giáo, nên kiếp này tuy xuất gia muộn, nhưng sự tinh anh học hiểu rất mau chóng.

Từ khi ông được thế phát xuất gia làm Sa môn ngày đêm cố gắng tu tập nghe rành hiểu rõ, nên chẳng bao lâu đã khai ngộ.

Hiềm vì tuổi già sức yếu nên oai nghi lễ kính đối với các Thượng Tọa không đủ bổn phận, các vị niên thiếu Tỷ Khưu, thấy ông có những hành vi thô tháo, không có lễ độ nhà thiền, cũng có khi răn bảo hoặc quở trách, thì ông lại kiêu căng tự đại, cậy mình niên cao học rộng, không chịu cung kính thừa sự. Thấy các vị có cử chỉ đối với mình như vậy, ông thầm nghĩ vầy:

– Ta ở tại gia vợ con ghét bỏ xúc não, nay đi xuất gia, mong được chỗ an vui, qua con mắt trái ngược nơi tục lụy, ai ngờ lại bị các Tỷ Khưu niên thiếu khinh miệt, không biết ta phải tội gì đến thế, lại thêm nghiệp phiền não cho ta, thà bỏ mạng cho qua đời là hết chuyện.

Ông liền đi sang khu rừng, bên đó có một con sông, vừa sâu vừa chảy mạnh, cởi áo Cà Sa vắt trên cành cây, quỳ thẳng chắp tay hướng lên tấm áo khóc mà thề rằng:

– Con xin bỏ mạng nơi đây, nhưng không bỏ Phật, Pháp, Tăng, cái áo của con đây, xin dâng cúng các vị Tỷ Khưu trì giới thanh tịnh tinh tiến tu hành, nguyện xả thân này, được sinh vào nhà phú quý vui vẻ! Họ hòa thuận không làm ngăn cản những thiện pháp con muốn làm, và được gặp ngôi Tam Bảo xuất gia tu đạo, đắc ngộ minh sư thiện hữu, chỉ bảo cho những ý nghĩa lý sâu huyền tu chứng thành công trên đường giải thoát an lạc.

Thế rồi, ông nhảy xuống sông. Khi đó Ngài Mục Kiền Liên ở trong rừng Trúc, dùng thiên nhãn nhìn xem ông đệ tử già mình làm gì, chợt thấy ông nhảy xuống sông, Ngài dùng lực thần túc vớt ông lên bờ, rồi bay tới tận nơi hỏi:

– Pháp Tử làm gì thế?

Thi Lợi Bí Đề ngửa mặt nhìn thấy thầy, thẹn hổ quá! Và cũng không biết dùng lời lẽ gì để thưa cùng thầy, ông thầm nghĩ:

– Ta không nên nói dối thầy, đời đời bị tội không lưỡi. Song thầy ta có thần thông biết trước, nếu ta nói dối thầy ta cũng biết. Trên đời những người có trí tuệ thông mình tính chất thật thà ngay thẳng, các ông trời còn phải kính trọng, nếu người có trí tuệ mà tâm siểm dối, cũng làm nhân sư và được người ta cúng dàng, người không có trí tuệ mà tâm ngay thẳng, tuy không giúp được người, nhưng đã tự cứu được mình, nếu kẻ vừa ngu si vừa siểm nịnh lừa dối thì bị người ta khinh rẻ chê bai, là đồ hèn hạ, dẫu có nói gì người ta đều cho là kẻ lừa bịp không tin dùng, ấy thế nếu nói dối thầy dĩ nhiên không hay cho bản thân ta.

Thưa rằng: – Bạch thầy con đã chán cái cảnh tục lụy, đi xuất gia để cầu an lạc, trái lại không thấy an lạc, mà chỉ thấy phiền não nhiều! Vì thế con muốn bỏ mạng ở đây, xin thầy xá tội!

Ngài Mục Liên thầm nghĩ:

– Ông lão này nếu ta không dùng một phương pháp sợ hãi thì đối với việc xuất gia của ông không kết quả.

Nghĩ xong nói: Pháp Tử hãy nắm chặt lấy góc áo Cà Sa của ta, khi bay lên hư không phải chính niệm chớ có loạn tưởng.

– Dạ! Thầy dạy con xin tuân mạng.

Ông nắm áo cẩn thận, Ngài bay vút lên hư không như cơn gió thổi mạnh, ông đệ tử nắm áo Ngài, cũng như luồng gió cuốn bụi, như chiếc bông bay trên không gian. Chỉ một chớp loáng đã tới biển cả. Ngài hạ chân xuống bãi, hai thầy trò đi trên bãi biển, gặp một người con gái mới chết nằm phơi thây dưới ánh mặt trời, ruồi nhặng ào ào bâu kín, nhìn thấy một con trùng bò ra rồi chui vào lỗ mũi, sau lại luồn ra hai mắt, qua mắt rút vào lỗ tai, coi rất ghê sợ. Ngài đứng lại lập phép quán tưởng, quán xong lại đi.

– Bạch Hòa Thượng! Người con gái này vì lý do gì chết tại đây? Lại có con trùng bò ra, rúc vào như vậy?

– Một lát ta sẽ nói cho hay!

Hai thầy trò đi được vài dặm, gặp một nguời con gái, đội cái vạc bằng đồng đến mé biển đổ nước đầy lửa đun sôi sùng sục, cởi áo nhảy vào trong vạc nước sôi ấy, tóc lông rụng hết, chân tay rã rời, xương thịt tả tơi, nhừ nát thân thể, nước sôi mạnh quá làm cho xương thịt tung hết ra ngoài, gặp một cơn gió làm cho da thịt chắp liền với nhau, thành lại hình người như cũ, người con gái ấy cứ xé thịt mình ra, rồi bỏ vào mồm ăn như ngon lành lắm. Ông đệ tử già sợ quá hỏi:

– Bạch Hòa Thượng, cô này tội gì như vậy, xin thầy nói cho con được rõ?

– Hãy khoan! Lát nữa ta nói cho hay!

Hai thầy trò đi khoảng vài dặm, thấy một thân cây to lớn, có rất nhiều sâu bám kín, cho đến cành lá chỗ nào cũng có sâu ăn rúc, lại nghe thấy tiếng kêu khóc! Làm cho chấn động, như tiếng kêu trong địa ngục, sợ quá! Hỏi:

– Bạch Hòa Thượng tiếng kêu đó là những người nào, tại nguyên nhân gì?

– Hãy khoan! Rồi ta sẽ렮ói.

Thầy trò lại bắt đầu đi, vừa được một lát, thấy một quả núi lớn có rất nhiều dao kiếm nhọn sắc, cắm ngược mũi lên trời, tua tủa như các hàng cây mọc, lại thấy một người nằm lăn mình từ trên đỉnh núi xuống đến chân, thân thể người ấy bị dao kiếm đâm nát tươm, máu chảy lênh lánh coi rất rùng rợn, hoặc có cái dao, cái kiếm nào bị đổ, người ấy lại dựng đứng lên như cũ, rồi bắt đầu trèo lên đỉnh núi lăn như trước, cứ như thế mãi không thôi.

Sợ quá! Hỏi: – Bạch Hòa Thượng người này tại sao khổ như thế?

– Hãy khoan, tới thời ta sẽ nói!

Qua quả núi này thấy một người con trai to lớn, chung quanh mình mọc hình những đầu các con thú rất ghê gớm, lại thấy các quỷ thần ác, tay cầm cung hoặc nỏ, mỗi cái tên có ba ngạnh, đầu bịt sắt nhọn có thuốc độc, và cháy đỏ, họ thi nhau, tranh nhau bắn người con trai ấy, thân thể cháy xám đen, kêu la thảm thiết!

Sợ quá hỏi: – Bạch Hòa Thượng! Người này phải tội gì như vậy?

– Hãy khoan, rồi ta sẽ nói.

Thầy trò đi được vài dặm thấy một quả núi lớn, núi này thuần xương không có đất đá, cao tới bảy trăm do tuần, che khí sáng mặt trời, làm cho khoảnh bể ấy vị tối om, thầy trò trèo lên đi trên sường núi một cách dạo chơi ung dung, thong thả. Thi Lợi Bí Đề tự nghĩ, giờ đây ta hỏi những việc vừa qua có lẽ thầy ta nói, nghĩ xong hỏi:

– Bạch Hòa Thượng! Xin thuật lại những chuyện việc vừa qua cho con rõ ư.

– Pháp Tử để ý nghe cho kỹ, ta sẽ nói cho rõ nguyên nhân các câu chuyện vừa qua cho biết.

– Dạ con xin chú ý nghe.

Đầu tiên người con gái chết nằm trên bãi biển: Cô đó vợ của anh Tát Bạc người nước Xá Vệ có nhan sắc đẹp, nên anh chồng cô yêu mến lắm. Tát Bạc đi buôn, vì quá yêu vợ, nên anh đưa vợ đi buôn, cùng với năm trăm người khách buôn ra biển. Cô này hay điểm tô má phấn môi son trâm gài, lược giắt ra ngắm vào vuốt, soi gương nhìn thấy mặt đẹp khởi lòng kiêu mạn lại thêm ham mến cái đẹp của mình. Thuyền đương đi gặp phải con rùa lớn, nó đạp thuyền bị thủng đắm chìm dưới đáy biển, mọi người đều bị chết cả, biển không chứa tử thi. Vì thế các quỷ Dạ Xoa, quỷ La Sát làm sóng gió đánh giạt những thây ấy lên bờ, chúng sinh tùy theo tâm ái luyến và lòng tưởng niệm khi chết sẽ bị đọa vào nơi ước muốn ấy. Cô này vì yêu sắc đẹp của mặt mình, tiếc sắc đẹp nên bị đọa làm con trùng để coi cái bộ mặt, thế cho nên con trùng cứ vơ vẩn từ mồm rúc ra, lại luồn qua mũi sang tai, vào mắt, mà không được giải thoát.

Nếu ai hỏi: Cứ theo tâm ái luyến tham trược đâu, thì sinh nơi đó, vậy ai yêu địa ngục làm chi, mà vào địa ngục cho khổ, thì trả lời họ rằng:

– Kẻ nào lúc bình sinh ăn trộm tiền của Tam Bảo hoặc của cha mẹ, hoặc sát nhân, tội ấy rất lớn phải đọa vào địa ngực hỏa thiêu. Kẻ đó trước hết mắc phải bệnh phong hàn lãnh, làm cho bức não thân tâm, trong lúc óc bệnh luôn luôn nghĩ đến nóng vì trong người lạnh, nên muốn tìm đến chỗ có lửa, đương khi trưởng niệm thì chết, hồn trút khỏi xác, tất nhiên nó sẽ theo lòng tưởng niệm mà đọa vào hỏa ngục.

Nếu kẻ nào ăn trộm đèn thờ Phật cùng các đồ vật khác, hoặc của chư Tăng đèn đuốc, củi cỏ, hoặc phá phòng Tăng, giảng đường, hoặc mùa đông rét mướt lột áo của người, hoặc cậy thế lực, trời rét lấy nước hành phạt người bằng cách dội nước lên đầu, khiến người ta chết rét, hoặc cướp trộm lột áo người ta. Tội báo ấy sẽ bị đọa vào địa ngực hàn băng.

Trước hết kẻ đó bị chứng bệnh nhiệt, làm nóng sốt thân thể cường nhiệt luôn luôn nghĩ đến giá lạnh, trong khi tưởng niệm ấy thì chết, hồn trút khỏi xác liền đọa vào địa ngục lạnh, như địa ngục: Ưu Bát La, Bát Đâu Ma, Câu Vật Đà, Phan Đà Lợi v.v…trong những ngục hàn lãnh này, kẻ tội nhẩn lạnh buốt, thân thể khô khan như hạt đậu rang, óc tủy như gạo rang, xương đầu tan vụn ra trăm ngàn muôn phần, xương mình gãy nát như tên vót nhọn.

Nếu kẻ nào mang lòng ham sẻn giựt của người, làm cho người ta chết đói, đói hoặc ăn uống không có thời tiết, kẻ ấy sẽ đọa vào loài quỉ đói, trước hết mắc phải bệnh khí, bụng đầy, ăn uống không tiêu, thầy thuốc xem bệnh lấy những thức ăn dỗ dành: Thứ này ngon, thứ này ngọt, thứ này chua, để dễ tiêu, ngươi cố gắng ăn đi thì bệnh sẽ khỏi. Kẻ bệnh nhân ấy tự phát lòng nóng giận nói: – Tôi ghê lắm! Tôi sợ lắm! Bao giờ cho con mắt tôi không trông thấy các món ăn này, trong lúc đương tưởng niệm ấy thì chết, hồn trút khỏi xác cứ theo tâm tư tưởng, ấy đọa vào quỉ đói (ngạ quỷ).

Cũng có kẻ ngu si không tin ngôi Tam Bảo, hoặc phỉ báng hoặc khinh hủy, không theo đú鮧 đạo làm người: Cha con hoặc mẹ con, anh em, tông thân dâm dục hỗn độn không phân biệt, hoặc bất hiếu không tin tội phúc vân vân…

Khi ốm nằm tựa như con chó, co quắp không thẳng, đó là do nghiệp sử nhiên, không muốn nghe lời nói lành. Cha mẹ anh em họ biết rằng: Bệnh nhân phải chết, họ khuyên rằng:

– Tụng kinh cho ngươi nhé! Quy y Phật cho ngươi nhé! Ngươi nên ngắm kính hình tượng Phật và mời chư Tăng về thuyết pháp cho ngươi nghe nhé, ngươi chịu khó niệm Phật cho khỏi tội lỗi được nhiều phúc đức, những của vật này đem bố thí cầu phước cho ngươi nhé!

Khuyên thế, nhưng tâm kẻ đó vẫn không vui vẻ! Lại sân nộ ác ý nói: Tôi nguyện rằng “không bao giờ nghe thấy những lời nói như vậy, đối với tôi, là không có gì hết, không phúc đức chi hết, chết là hết”.

Kẻ đó chết, hồn trút khỏi xác đọa vào loài súc sinh, vì súc sinh không có văn hóa, đạo đức, không tôn thân cha mẹ, anh em, cũng do tâm niệm của họ gây nên cả.

Nếu ai ham tu điều lành, trồng nhân cõi người, giữ năm giới, người ấy sẽ không bị bệnh hoạn làm bức bách thân tâm tới khi chết tâm ý không rối loạn, biết rằng sắp chết, nên anh em họ khuyên rằng:

Người muốn nghe Kinh Pháp không? Muốn ngắm hình tượng Phật không? Muốn gặp chư Tăng nghe thuyết pháp không? Muốn thọ trai thọ giới không? Muốn cúng dàng Tam Bảo không?

Bệnh nhân đáp: – Hay lắm! Tôi muốn như thế lắm!

Họ lại nói tiếp cho nghe:

– Tụng kinh ngắm hình Phật, sẽ được thành Phật đạo; cúng dàng in kinh Pháp, sinh nơi nào cũng có trí tuệ cao sáng hiểu thấu các pháp tướng; cúng dàng Tăng, sinh nơi nào cũng được giàu sang sung sướng, ý muốn dùng gì cũng đầy đủ.

Bệnh nhân nghe xong sung sướng phát nguyện rằng:

– Nguyện cho con sinh nơi nào cũng được gặp ngôi Tam Bảo nghe Pháp ngộ đạo.

Người đó khi chết được sinh làm người, nếu người nào trồng nhân thập thiện để cầu sinh thiên hoặc trì giới thanh tịnh làm hạnh bố thí ham nghe kinh Pháp, chăm tu mười điều: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói ác, không giận tức, không ngu si, người ấy lúc mệnh chung được an vui và nằm ngửa, được nhìn thấy hình tướng Phật, và nghe nhạc trời, nhan sắc hòa vui, cất tay hướng lên, phút cuối cùng tắt thở hồn bay lên Trời.

Đây vợ Tát Bác vì ham luyến cái sắc đẹp của mình, cho nên lúc chết, phải sinh làm con trùng, ở ngay xác chết của mình, sau khi bỏ thân trùng phải đọa vào địa ngục chịu khổ vô cùng.

– Bạch Hòa Thượng! Kẻ thiếu phụ tự ăn thịt của mình căn nguyên tại sao xin nói cho con được rõ?

– Người này ở nước Xá Vệ là đứa ở gái của một người Ưu Bà Di. Người Ưu Bà Di này, nguyện cúng dàng một vị Tỷ Khưu trì giới thanh tịnh trong một khóa an cư là chín mươi ngày, làm riêng một căn nhà, cho vị đó ở, hàng ngày sửa soạn các món ăn ngon lành thơm sạch, tới bữa ăn sai đứa ở gái dâng Ngài, xong các món ăn ngon nó đều sơi hết, chỉ dâng Ngài các món thừa không ngon.

Qua một thời gian, Ưu Bà Di thấy nhan sắc nó béo tốt đẹp đẽ, hỏi:

– Mi ăn vụng các món ăn của thầy ta hay sao độ nầy mập mạp vậy?

– Thưa bà đâu có, con cũng tin tội phúc chứ, con đây không phải là kẻ tà kiến đâu, có lẽ nào con dám ăn trước, thầy ăn xong có còn thừa cho con, con mới dám ăn! Con thề rằng: Nếu con ăn trước thầy thì đời đời con phải tự ăn thịt của con.

– Pháp Tử nên biết! Chính đứa ở gái ăn vụng thức ăn của vị Tỷ Khưu, sau chối và thề nguyện nên phải thụ quả báo tự ăn thịt mình. Như nay tức là Hoa báo, sau phải đọa vào địa ngục, lúc bấy giờ mới chính là quả báo, khổ đau vô cùng tận, nói không xiết.

– Bạch Hòa Thượng còn cây to lớn có những con trùng ăn rúc, tiếng kêu dữ dội như thế là do nhân duyên gì?

– Đó là một vị Tỷ Khưu giữ của thường trụ, tên là Lại Lợi Cha, lấy của thường trụ và những hoa quả, thức ăn uống cho anh em họ hàng và người bạch y, những người ấy sau khi chết, phải đọa vào địa ngục lớn làm những con trùng con sâu này để ăn rúc thân cây, còn thân cây này, là vị Tỷ Khưu nói trên (Lại Lợi Cha).

– Bạch Hòa Thượng! Cái người bị bắn kêu khóc lửa cháy cả toàn thân đó là vì tội gì như vậy?

– Người này lúc sinh thời, là một gã đi săn, sát hại các loại cầm thú, bởi tội ấy chết phải đọa xuống địa ngực, chịu khổ báo như vậy, chưa biết ngày nào được thoát!

Bạch Hòa Thượng, cái người lăn từ trên đỉnh núi xuống, máu me đẫm mình, họ tạo tác tội gì, xin nói cho con được rõ?

Người này ở thành Vương Xá, là một ông Đại Tướng đi tiên phong sát hại nhân dân, giết người không nhởn, vì thế phải tội báo này, sau phải đọa vào đại địa ngục chịu lấy sự thốn khổ vô thời hạn.

– Bạch Hòa Thượng, còn cái núi xương đây là gì?

– Núi xương này là con cá Ma Kiệt, chính nó là tiền thân của ông, vì ngươi còn là phàm phu, cách ấm bị mê, nên không biết đấy thôi!

Thi Lợi Bí Đề nghe xong tâmhồn thổn thức, sợ hãi thưa rằng:

– Bạch Hòa Thượng tâm hồn con còn mê tối không hiểu biết, cúi xin Hòa Thượng nói cá nguyên nhân tội gì con phải làm thân cá?

– Pháp Tử nên biết, sinh tử luân chuyển không có bờ bến, nhưng đối với nghiệp báo của thiện ác thì không sai lạc, không tài nào trốn thoát được, tạo nghiệp gì phải báo nghiệp đó. Đây từ đời quá khứ, có một ông vua ở Châu Diêm Phù Đề, tên là Đàm Ma La Bí Đề (Tàu dịch là Pháp Tăng). Ông chăm làm việc bố thí, giữ giới, nghe kinh, có tâm từ bi, tính không bạo ác, không bao giờ làm tổn thương đến tính mạng của một loài nào. Xứng đáng một ông vua có đạo đức. Ông dùng chánh pháp để trị dân, làm vua đã được hai mươi năm, đương buổi thừa nhàn đánh bạc chơi vui, lúc ấy có người phạm tội sát nhân, quan tòa vào tâu rằng:

– Tâu Bệ Hạ! Ngoài thành có kẻ phạm tội ghét người, trị tội thế nào xin cho hạ thần được rõ?

Nhà vua mãi chơi không suy xét rõ, đáp rằng:

– Cứ theo quốc pháp mà trị tội.

Theo quốc pháp, nếu kẻ nào mà giết người thì bị tử hình, chiếu luật đem người đó ra xử trảm.

Xong cuộc vui chơi nhà vua hỏi các quan rằng:

– Kẻ tội nhân ấy nay ở đâu, để ta đoán quyết?

– Theo quốc pháp, phạm nhân đã đem ra xử tử rồi.

Nhà vua nghe nói giựt mình! Lo sợ ngã xuống đất, tả hữu đỡ dậy hồi lâu tỉnh lại, thân phiền nói:

– Các cung tần mỹ nữ, voi ngựa ở lại đây, riêng ta phải vào địa ngục chịu đau khổ một mình. Khi ta chưa làm vua thì cung điện này cũng có người cai trị, chẳng bao lâu ta chết, cung này tiếp tục cũng có người thống ngự, ta làm vua giết hại mạng người, đó là làm vua đồ tể. Chẳng biết đời đời kiếp kiếp nó sẽ đưa ta đến chốn nào? Ta quyết định không làm vua nữa, từ nay quyền chính giao cho các ông ở lại trông coi việc nước, tôi vào núi để tu đạo, cầu giải thoát từ đây.

Sau một thời gian, ông vua này chết phải đọa sinh làm loài cá Ma Kiệt ở trên bể lớn thân dài bảy trăm do tuần. Các ông vua kế vị và các ông quan đại thần nước ấy, cậy có quyền thế ức hiếp nhân dân làm những điều tàn nhẫn, vợ bỏ chồng, con lìa cha, bóc lột dân đen, sau khi chết bị đọa làm cá Ma Kiệt hết thảy, có những con vi trùng ở trong vẩy rỉa rúc ăn thịt, đau như lưỡi câu sắt móc mình. Lúc bị cắn đau sát mình vào núi pha lê làm cho những con trùng bị giập chết, máu chảy đỏ ngầu trong trăm dặm bể, vì tội ấy chết phải đọa vào địa ngục. Những con cá này, cứ mỗi giấc ngủ là một trăm năm lúc tỉnh dậy đói quá không có thức ăn phải há mồm cho nước biển thuyền bè tôm, cá chảy vào. Giữa lúc há miệng thì có năm trăm người lái buôn trong thuyền vì nước chảy mạnh quá nên chiếc thuyền này theo dòng trôi thẳng vào mồm cá. Mọi người đều khủng khiếp lo sợ! Gào khóc la, kẻ niệm Phật, người cầu kinh, kẻ kêu trời! Người khấn đất! Kẻ cầu thần! Cũng có người kêu gọi cha mẹ vợ con! Rồi kể lể rằng: Hôm nay là phút cuối cùng từ biệt cõi nhân gian thôi! Thôi! Không bao giờ ta được thấy gia đình lần thứ hai nữa. Thuyền sắp tới mồm cá, sự sợ hãi dồn dập vì thế nên nhiều người lớn tiếng niệm “Nam Mô Phật”.

Cá Ma Kiệt nghe tiếng niệm Phật, động lòng từ bi ngậm mồm lại, nước hết chảy, thuyền được yên, mọi người thoát chết trong mồm cá.

Cũng vì thế nên cá bị chết đói, thần hồn được sinh vào thành Vương Xá. Sau khi cá chết, quỷ Dạ Xoa, La Sát vứt con cá ấy lên bãi biển, trải qua những ngày tháng mưa gió dãi dầu da thịt tiêu tan còn đống xương tại đây. Lắng nghe, ông vua Pháp Tăng thuở đó nay chính là Thi Lợi Bí Đề, bởi tội sát nhân phải đọa làm con cá Ma Kiệt ở dưới bể này, nay đã được làm thân người sao không chán ghét sinh tử để an tâm tu đạo giải thoát hay sao? Lại còn muốn chết ở nơi đây làm chi? Nếu chết sẽ bị đọa vào địa ngục, bấy giờ muốn ra cũng khó.

Thi Lợi Bí Đề nghe Hòa Thượng giảng thuyết xong biết rõ thân cũ của mình tự xét biết sợ sinh tử, nhớ nghĩ phép tu, để lòng chú ý quan sát đống xương cá là tiền thân của mình, thấu hiểu pháp vô thường, chán lìa sinh tử, giữa giờ phút ấy được trút hết lậu, đắc quả La Hán. Ngài Mục Kiền Liên hoan hỷ nói:

– Pháp Tử, công việc của người làm đã được thành tựu hãy theo đây nhân lực của ta, người tự dùng lấy thần túc mà đi.

Nói xong, Ngài rướn mình lên hư không như chim phượng hoàng vô cánh, ông Thi Lợi Bí Đề cũng bay theo sau, như chim mẹ bay trước chim con bay sau, một lát đã tới rừng Trúc từ từ hạ xuống Tinh Xá.

Các vị niên thiếu Tỷ Khưu chưa biết ông đã đắc đạo, nên các Ngài vẫn coi thường và có khi còn la mắng. Vì ông đắc đạo, tâm đã điều thuận, nên vẫn êm đềm vui vẻ, không nói sao hết.

Đức Phật thấy thế, muốn ngăn đón tâm ngã mạn của các niên thiếu Tỷ Khưu và muốn hiển dương cái đức của vị lão thành nên giữa trong đại chúng Phật nói:

– Thi Lợi Bí Đề hôm nay ra biển về phải không?

– Dạ! Lạy đức Thế Tôn có đấy ạ!

– Ra bê thấy những gì nói cho ta nghe?

Thi Lợi Bí Đề cung kính trình bày những việc nói trên cho Phật nghe.

Phật nói: – Quí hóa! Hộmnay thấy sự thật như vậy có lẽ từ nay ngươi được thoát cái khổ sinh tử, chứng đạo Niết Bàn, và có thể nạp thụ sự cúng dàng của người cõi nhân, cõi thiên, công việc làm của Tỷ Khưu ngươi đã được đầy đủ.

Nghe Phật nói xong các niên thiếu Tỷ Khưu vừa lo vừa sợ, hối hận thầm nghĩ:

– Chính ông lão này là người hiền nhân trí tuệ, lũ ta thực không hiểu biết gì, từ trước đến nay tự cao tự đại, phải tội phạm đến hiền giả, tội ấy không phải nhẹ, ta nên xin sám hối trước là hơn!

Các niên thiếu Tỷ Khưu đều đứng dậy, tới trước ông Thi Lợi Bí Đề năm thể chạm xuống đất bạch rằng:

– Bạch Đại Đức các thiện nhân sinh, lòng từ bi cũng sinh theo! Trước đây chúng tôi đối với Đại Đức lầm lỗi, cúi xin từ bi xá bỏ, được ân triêm công đức.

– Tôi đối với tất cả mọi người đều có thiện tâm, hối quá có thể được lắm! Hay lắm!

Ông Thi Lợi Bí Đề thấy các niên thiếu Tỷ Khưu còn có ý sợ sệt, nên ông thuyết pháp xuất ly sinh tử cho các vị nghe, từ đó các Tỷ Khưu gắng tiến tu hành, không lâu đã ngắt bỏ được lậu nghiệp thành ngôi La Hán. Cũng do nhân duyên nay mà tiếng khen đồn khắp thành Vương Xá.

Thật lạ quá! Ông lão một trăm tuổi mới xuất gia còn thành công đắc quả, thuyết pháp cao siêu thực là chưa từng có!

Từ đó trong thành nhiều người cho con trai, con gái, đứa ở trai, đứa ở gái đi xuất gia hoặc tự họ đi xuất gia.

Công đức xuất gia vô lượng vô biên như thế! Ông Thi Lợi Bí Đề đã một trăm tuổi mới xuất gia tu hành còn đắc đạo quả, thành tựu công đức lớn lao, những ai đã luống tuổi tại sao không xuất gia tu đạo, chăm chỉ tinh tiến tu hành để cầu một phúc báo vô biên ấy?